Chu Hi...Đồng thời cho đến lúc này, Nho giáo được chia ra thành hai bộ phận: đạohọc và đứchọc, và trình độ triết học của Nho giáo đã được nâng lên cao ngang với Lão học và Phật học..."/>Chu Hi...Đồng thời cho đến lúc này, Nho giáo được chia ra thành hai bộ phận: đạohọc và đứchọc, và trình độ triết học của Nho giáo đã được nâng lên cao ngang với Lão học và Phật học..."/>

Lý học và tượng số của Nho - Lão - Phật giáo

08:10 CH @ Thứ Tư - 23 Tháng Tám, 2006

Từ khi ra đời và phát triển đến thế kỷ XI là thời điểm Nho giáo thịnh vượng nhất cùng với những tên tuổi lớn như: Âu Dương Tu, Thiệu Ung, Chu Hi...Đồng thời cho đến lúc này, Nho giáo được chia ra thành hai bộ phận: đạohọc và đứchọc, và trình độ triết học của Nho giáo đã được nâng lên cao ngang với Lão học và Phật học.

Nếu xét kỹ trong lĩnh vực học vấn,Nho giáo vẫn chú trọng về chính trị và luân lý, còn Lão giáo và Phật giáo trong thực tế tuy có nhiều ẩn ý sâu xa, mê hoặc lòng người, nhưng tư tưởng lại không có giới hạn, cho nên nhiều học giả cố công ra sức nghiền ngẫm thay vì học thuộc lòng những lễ giáo sáo cũ của Nho học. Cũng là một đạo giáo phát triển, nhưng Lão học đã thịnh từ thời Tam quốc. Phật học từ thời Đường, thu hút rất nhiều kẻ sĩ và triết gia để không ngừng mở rộng, trong khi Nho giáo vẫn khăng khăng bó buộc con người ta trong một khuôn khố chật hẹp. Tuy thế, phần lý học cơ bản có một điểm chung tương đồng giữa Nho - Phật - Lão: Thiên địa vạn vật nhất thể, tức là vũ trụ do Thái cực (điểm vô cùng không giới hạn) sinh ra Lưỡng nghi, sinh ra Tứ tượng rồi âm dương vận động, kết hợp sinh ra vạn vật, vạn vật theo chu kỳ sinh - tử lại trở về với Thái cực (cõi hư không). Nhưng do cách lập giáo và hành đạo khác nhau, nên học thuyết này chia thành 3 quan điểm. Lão giáo cho rằng, vạn vật đều bắt nguồn từ cái gốc là Đạo, cuộc đời chẳng qua là quãng phù vân, hơi đâu mà mưu tính lo nghĩ cho nặng đầu, tốt nhất cứ vui chơi thỏa lòng, hợp đạo hòa với thiên nhiên, thậm chí không cần nhân, lễ nghĩa, trí, tín kể cả luật pháp, quan điểm xã hội, miễn ta với ta thanh thản đến mức vô vi.Tư tưởng này thể hiện rõ nhất ở câu nói của Lão Tử: Vi vô vi,Vị vô vị, Sự vô sự, Dục bất dục. Học bấthọc (đại ý là: làm mà như không làm, ham muốn mà cũng như không, học cũng như chưa học...). Phật giáo lại coi vạn sự do thuyết luân hồi quyết định, sắc sắc - không không như nhau, đều do cái Ngộ của bản thân làm chủ, chu kỳ sinh hóa luân chuyển là một khái niệm tạm thời hư ảo chứ không phải thực con người ta phải luyện chữ Nhẫn để tìm về cội nguồn vĩnh hằng mới mong thoát khỏi vòng sinh tử, nơi đó không còn lo nghĩ, sầu bi, khổ não, và lúc ấy là ta đắc đạo. Chẳng thế mà kinh Phật viết: Ta lang thang trong vòng luânhồi qua bao kiếpsống, tìm mãimà không gặp kẻ làm nhà. Đaukhổ thay kiếp sống cứ táidiễn mãi! Hỡi kẻ làmnhà? Nay ta gặp được ngườirồi. Người không thể làm nhà nữa, ta đãchứng đắc Niêt bàn, bao nhiêu dụcái đều đứt sạchNho giáo thì quan niệm mọi biến hóa trong vũ trụ phụ thuộc vào Thái cực. Cái gì đã sinh ra tức là thực có phải tận dụng, thuận theo chân lý nguyên- hanh- lợi- trinh của tạo hóa để sinh tồn. Mọi quy luật cuộc sống đều được sắp đặt trong một công thức nhất định mà con người ta hoàn toàn có thể biết được theo nhiều cách, tùy thuộc vào trình độ nhận thức, vì vậy: Còn hay mất, phúchay họa đềudo nơi mình cả. Thiên tai, địaám thìcó can gì? Cũng vì tư tưởng tích cực nên Nho giáo tạo ra cái đạo nhậpthế,còn Lão và Phật giáo tiêu cực hơn gọi là đạo xuất thế.Ngoài ra, tính thực tiễn của Nho giáo cũng được ứng dụng rộng rãi nhất, không chỉ là cầu nguyện suông, mà còn muốnđạt được cái mình muốn.

Nhưng tượng số học của Tam giáo trên lại không khác nhau là mấy. Đã bàn đến Tượng số thì phải kể đến tên Thiệu Ung, hay còn gọi là Thiệu Khang Tiết và cuốn sách Hoàng cực kinh thếnổi tiếng của ông được biên soạn theo lý thuyết của Kinh dịch và Kinh Thái Huyền có 60 chương phân tích về tượng số của trời đất sự biến hóa của Thái cực ông đã lấy những mã vạch âm dương mà vua Phục Hi đã đặt ra để định tượng số, lập hẳn ra một học thuyết có ảnh hưởng đến tận bây giờ (người cháu đời thứ 29 của ông là Thiệu Vĩ Hoa hiện nay đang phụ trách Trung tâm nghiên cứu ứng dụng Dịch học của Trung Quốc có chi nhánh ở hầu hết các tỉnh thành lớn, kể cả Hồng Kông và Đài Loan). Ông được các học giả qua nhiều đời suy tôn là bậc đại triết giacủa Nho giáo.Thiệu Khang Tiết cho rằng: Vật lớn không gì bằng trời đất, thế mà cũng có chỗ hết. Cái lớn của trời thì đến âm dương là hết. Cái lớn của đất thì đến Cương nhu là hết. Trời sinh ra bởi động. Đất sinh ra bởi tĩnh. Lúc mới động thì dương sinh động đến cực thì âm sinh. Một âm, một dương giao nhau mà hết cái dụng của trời đất. Ông còn lấy cái thể và cái dụng của tứ tượng phối hợp với nhau thành tượng số tự nhiên như: Nóng, lạnh ngày, đêm, mưa, gió, sương, s m làm sự biến và sự hóa của trời đất, Lấy tính, tình, hình, thể, chạy, bay, cỏ, cây làm sự cảm và sự ứng của vạn vật, Lấy nguyên, hội, vận, thế, tuế, tiết, nhật nguyệt làm cái trước và cái sau của không gian và thời gian. Theo đó, vòng thời gian có một nguyên là 129.600 năm gồm 12 hội, mỗi hội là 10.800 năm có 30 vận, mỗi vận là 360 năm có 12 thế mỗi thếlà 30 năm. Như vậy, một nguyên có 12 hội, 360 vận, 4320 thế. Cuộc đại biến hóa của vũ trụ cũng đi theo quy trình như trên, tức là sự biên đổi siêu vật chấtđã có nhiều điều trùng lặp, giống nhau đến lạ kỳ với học thuyết khoa học của những nhà vật lý, toán học nghiên cứu về vũ trụ và lượng tử hiện đại. Hơnnữa, Thiệu Khang Tiết cũng dùng tượng số này tạo thành lý thuyết giáo dục và tu dưỡng đạo đức. Ví như có tính là có tình. Tình là cái phản lại của tính cũng như mặt trăng sáng là do lấy ánh sáng từ mặt trời vậy. Tính là thần, tình là quỷ, nghĩa là tính thì trong lành sáng suốt, tình thì quỷ quái mờ tối, cho nên người ta cần phải phục tính,nói cách khác là rèn luyện để trở lạichính mình. Khi đã về nguyên tính thiêng liêng tỏa sáng thì chính là lúc đạt tới mức thần.,cái thầncủa Thiệu Khang Tiết cũng phảng phất như đạo Lão vậy.

Tuy chỉ có một nhưng ở khắp nơi! Vì lẽ đó mà nguyên tắc sống của người quân tử là tôn trọng bản thân, không bao giờ tự lừa dối mình, biến mỗi bản thân thành một vũ trụ riêng đầy sức mạnh, không bị ngoại cảnh đè nén mà còn khống chế được khách quan.

Nguồn:
FacebookTwitterLinkedInPinterestCập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Ảnh hưởng của Phật giáo với con người Việt Nam

    29/05/2018Từ khi du nhập Việt Nam đến nay, Phật giáo đã tồn tại và gắn liền với lịch sử dân tộc, nó ngấm sâu vào tư duy và trở thành một bộ phận văn hoá, nếp sống của người Việt. Vậy nó ảnh hưởng đến con người Việt Nam như thế nào?
  • Nghiên cứu nho giáo Việt Nam trong bối cảnh khu vực và thời đại

    29/09/2013Phó GS Phan Văn CácNho gia vốn quy giá trị nhân sinh thành giá trị xã hội, cho rằng con người phải có trách nhiệm nhất định đối với gia đình, xã hội, đất nước và cả thế giới: đó là lí tưởng cuộc đời và lẽ sống của mỗi người...
  • “Nhân” trong luận ngữ của Khổng Tử

    17/08/2006Lê Ngọc AnhNho giáo ra đời vào thế kỷ VI trước công nguyên do Khổng Tử là người sáng lập. Tại quê hương của Nho giáo đã từng có lúc rộ lên "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng", nhưng thực tế đã chứng minh, cuối cùng thì Nho giáo vẫn là học thuyết có sức sống lâu bền nhất...
  • Những vấn đề con người và tu dưỡng trong Phật giáo

    12/05/2006Đạo Phật không thừa nhận quan điểm thần quyền của kinh Veda, không quy phục sự bất bình đẳng tôn giáo trong đạo Balamôn. Thời đó, đạo Phật xuất hiện như một hệ tư tưởng tiến bộ, vô thần, bảo vệ quyền bình đẳng của con người trong xã hội đẳng cấp tôn giáo...
  • Đạo Khổng còn hợp với thời nay không?

    26/11/2005Nguyễn Văn NghệGần đây, trong mối giao lưu và hội nhập ngày càng được đẩy mạnh với các nước trong khu vực, nhiều học giả đã quay trở lại với việc đánh giá vai trò của Nho giáo trong xã hội Việt Nam thời hiện đại. Bài viết sau giúp bạn đọc tổng hợp một số ý kiến của các học giả nước ngoài, và quan diểm của một số nhà nghiên cứu Việt Nam...
  • Tiêu chí kiểm định đạo đức con người qua tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam

    02/11/2005Lê Huy ThựcTục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam là kết quả lao động sáng tạo, thể hiện những tài triết lý sâu sắc được đúc rút từ thực tiễn của cha ông ta. Chúng ta thấy trong đó chứa đựng nhiều việc cụ thể, hoặc nhận thức cảm tính và suy luận… Mặc dù vậy, tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam cũng thừa nhận rằng, việc kiểm định đạo đức con người không phải là dễ dàng, đơn giản; song không phải vì thế mà ý nghĩa của tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam giảm đi, mà trái lại, càng nói lên giá trị hiện thực của loại hình văn học độc đáo này...
  • xem toàn bộ