Phê phán tính hiện đại

02:45 CH @ Thứ Hai - 13 Tháng Mười Một, 2006

Tính hiện đại, sự có mặt của nó chiếm vị trí trung tâm trong những suy nghĩ và thực tiễn của chúng ta từ hơn ba thế kỷ qua, và hiện nay đang bị xem xét lại, bị từ bỏ hoặc định nghĩa lại là cái gì vậy?

Ý tưởng về tính hiện đại, dưới hình thức tham vọng nhất của nó, từng là sự khẳng định rằng: con người là những gì mà nó làm, do đó, phải có một sự tương ứng ngày càng chặt chẽ giữa sản xuất được khoa học, công nghệ hay quản lý làm cho có hiệu quả hơn, cách tổ chức xã hồi được điều tiết bằng luật pháp và đời sống cá nhân được lợi ích cũng như ý chí tự giải thoát khỏi mọi ràng buộc thúc đẩy, khích lệ. Sự tương ứng giữa một nền văn hóa khoa học, một xã hội quy củ và những cá nhân tự do dựa vào cái gì, nếu không phải là vào chiến thắng của lý ttrí? Chỉ có nó mới thiết lập được một sự tương ứng giữa hành động của con người và trật tự của thế giới, điều mà các tư tưởng tôn giáo cũng đã từng tìm kiếm, nhưng đã bị tê liệt vì mục đích luận cố hữu của các tôn giáo độc thần dựa vào một thần khải. Chính lý trí đã thúc đẩy khoa học và những ứng dụng của nó, cũng chính lý trí làm cho đời sống xã hội thích nghi với những nhu cầu cá nhân hay tập thể, cuối cùng, cũng chính nó thay thế cho sự độc đoán và bạo lực bằng Nhà nước pháp quyền và thị trường. Hành động theo những quy luật của lý trí, loài người đang đồng thời tiến tới dồi đào, tự do và hạnh phúc.

Nhưng chính sự khẳng định chủ yếu này đã bị những người phê phán tính hiện đại phản bác hoặc từ bỏ.

Tự do, hạnh phúc cá nhân hay sự thỏa mãn những nhu cầu là hợp lý ở chỗ nào? Cứ chấp nhận rằng sự độc đoán của nhà vua và sự tôn trọng những tập quán địa phương và nghề nghiệp là đi ngược lại với sự hợp lý hóa sản xuất và sản xuất đòi hỏi phá bỏ các vật chướng ngại, đẩy lùi bạo lực và thiết lập một Nhà nước pháp quyền. Nhưng điều đó chẳng có liên quan gì với tự do, dân chủ và hạnh phúc cá nhân mà người Pháp đang biết rất rõ, vì Nhà nước pháp quyền đã được dựng lên với chế độ quân chủ chuyên chế. Uy quyền lý trí hợp pháp gắn với nền kinh tế thị trường trong việc xây dựng xã hội hiện đại chắc chắn không đủ để chứng minh rằng tăng trưởng (kinh tế) và dân chủ có liên hệ với nhau bằng sức mạnh của lý trí. Sự liên hệ này chỉ có ở cuộc đấu tranh chung của hai mặt đó chống lại truyền thống và sự độc đoán, nghĩa là về mặt tiêu cực, mà không phải về mặt tích cực. Sự phê phán này cũng chống lại mối liên hệ được giả định giữa hợp lý hoá và hạnh phúc và càng chống lại mạnh hơn nữa. Sự giải thoát khỏi những sụ kiểm soát và những hình thức truyền thống của uy quyền cho phép có hạnh phúc, nhưng không bảo đảm nó, sự giải thoát ấy viện đến tự do, nhưng đồng thời lại đặt tự do vào sự phục tùng lối tổ chức sản xuất và tiêu dùng tập trung hóa. Sự khẳng định rằng tiến bộ là con đường đi tới dồi dào, tự do và hạnh phúc, và ba mục tiêu ấy liên hệ chặt chẽ với nhau, sự khẳng định ấy chỉ là một hệ tư tưởng luôn luôn bị lịch sự cải chính.

Hơn thế nữa, như những nhà phê phán cấp tiến nhất nói: cái người ta gọi là sự thống trị của lý trí chẳng phải là sự kiểm soát ngày càng tăng thêm của hệ thống đối với các tác nhân, với sự chuẩn mực hóa và quy cách hóa mở rộng ra cả thế giới tiêu dùng và giao tiếp sau khi đã phá hủy tính độc lập của những người lao động đó sao? Đôi khi sự thống trị này được thực hiện một cách cởi mở, đôi khi lại theo lối độc đoán, nhưng trong tất cả các trường hợp này, tính hiện đại đều nhằm mục đích bắt mỗi người phải tuân theo những lợi ích của toàn thể, ngay cả và nhất là khi tính hiện đại ấy đòi phải có tự do cho chủ thể, dù cái toàn thể ấy là doanh nghiệp, quốc gia, xã hội hay chính bản thân lý trí. Chẳng phải là nhân danh lý trí và tính phổ biến của nó, mà con người phương Tây, nam giới, người lớn và có học, đã mở rộng sự thống trị của nó ra cả thế giới, từ những người lao động đến dân các thuộc địa, từ phụ nữ đến trẻ em đó sao?

Nhưng phương Tây đang trả lời rằng: từ lâu, từ thời Cách mạng Pháp (1789) biến thành thời Khủng bố, nó đã nghi ngờ thứ chủ nghĩa duy lý duy y chí ấy, thứ chuyên chế sáng suốt ấy. Trên thực tế, nó dần dần thay thế cách nhìn duy lý về vũ trụ và hành động của con người bằng một quan niệm khiêm nhường hơn, thuần túy công cụ, về tính hợp lý, ngày càng đưa tính hợp lý vào việc phục vụ cho những yêu cầu, những nhu cầu mỗi lúc một vượt ra khỏi .những quy tắc cưỡng ép của một thứ chủ nghĩa duy lý chỉ phù hợp với một xã hội sản xuất hướng tới tích lũy, hơn là tới tiêu dùng của đại đa số người, khi người ta ngày càng bước vào một xã hội tiêu dùng đại chúng. Thật vậy, cái xã hội bị tiêu dùng thống trị ấy, mà gần đây còn bị cả những phương tiện truyền thông đại chúng thống trị nữa, đã cách xa với CNTB thanh giáo và Werber lấy làm điểm quy chiếu.

Nhưng một số nhà phê phán khác đã lên tiếng chống lại quan niệm êm dịu về tính hiện đại ấy. Chẳng phải nó đang chìm vào sự vô nghĩa đó sao? Chẳng phải nó đang coi những đơn đặt hàng trực tiếp nhất, do đó ít quan trọng nhất, là có tầm quan trọng lớn nhất đó sao? chẳng phải nó đã mù quáng khi quy xã hội thành một thị trường và chẳng hề quan tâm gì tới những bất bình đẳng do nó làm tăng lên, cũng như tới sự hủy hoại môi trường thiên nhiên và xã hội do nó dấy nhanh lên, đó sao?

Để thoát khỏi sức mạnh của hai kiểu phê phán đó nhiều người bằng lòng với một quan niệm còn khiêm nhường hơn về tính hiện đại. Đối với họ, việc viện tới lý trí làm chỗ dựa không dựng lên được một kiểu xã hội nào cả, nó là một sức mạnh phê phán làm tan rã các độc quyền cũng như các thứ nghiệp đoàn, các giai cấp hay các hệ tư tưởng Anh, Hà Lan, Mỹ và Pháp đã bước vào tính hiện đại hằng một cuộc cách mạng và bằng việc bác bỏ chế độ chuyên chế. Hiện nay, khi từ cách mạng mang những nội hàm tiêu cực hơn là tích cực, người ta thích nói tới sự giải phóng hơn, dù là sự giải phóng một giai cấp bị áp bức, một dân tộc thuộc địa, những phụ nữ bị thống trị hay những thiểu số bị ngược đãi. Sự giải phóng ấy sẽ đưa tới cái gì? Đối với những người này nó sẽ đưa tới sự bình đẳng về các cơ may, còn đối với những nguồn khác thì đưa tới một trạng thái đa văn hóa khá ôn hòa. Nhưng tự do chính trị phải chăng chỉ có tính tiêu cực, mà theo định nghĩa của Isaiah Berlin, nó chỉ đưa những ai nắm được quyền lực tới chỗ bất lực hay tới chỗ nắm giữ nó chống lại ý chí của đa số? Hạnh phúc phải chăng là tự do đi theo ý chí hay những ham muốn riêng của mình? Tóm lại, phải chăng xã hội hiện đại đang hướng tới chỗ loại bỏ tất cả các hình thức của hệ thống và tất cả những nguyên tắc tổ chức để chỉ còn là một luồng rất nhiều những biến đổi thuộc về các chiến lược cá nhân, tổ chức hay chính trị, do luật pháp và các hợp đồng điều tiết? Một thứ chủ nghĩa tự do triệt để như vậy không còn xác định một nguyên tắc cai trị, quản lý hay giáo dục nào nữa. Nó cũng không bảo đảm sự phù hợp giữa hệ thống và tác nhân, vốn là mục tiêu cao nhất của những nhà duy lý thời Khai sáng nữa, mà chí hướng tới một sự khoan hòa chỉ được tôn trọng khi không có khủng hoảng xã hội nghiêm trọng và chủ yếu có lợi cho những ai nắm được những nguồn lực dồi dào nhất và đa dạng nhất.

Một quan niệm êm dịu như vậy về tính hiện đại không tự xóa bỏ bản thân nó sao? Đó là điểm xuất phát của những sự phê phán hậu hiện đại. Baudelaire đã nhìn thấy trong cuộc sống hiện đại, trong kiểu thức và nghệ thuật của nó sự hiện hữu của cái vĩnh hằng trong cái thoáng chốc. Nhưng chẳng phải đó chỉ là một sự chuyển tiếp giữa những "cách nhìn thế giới" dựa trên những nguyên lý tôn giáo và chính trị ổn định và một xã hội hậu lịch sử hết sức đa dạng, trong đó cái cũ và cái mới cùng tồn tại ở nơi này hay nơi khác, mà không hướng tới sự thống trị, hay sao? Và thứ văn hóa hậu hiện đại ấy chẳng phải là không có khả năng sáng tạo, dù chỉ là phản ánh những sáng tạo của các nền văn hóa khác, những nền văn hóa tự coi mình mang tải một chân lý, đó sao?

Từ hình thức cứng rắn nhất đến hình thức mềm mại nhất, khiêm tốn nhất, ý tưởng về tính hiện đại đã mất đi sức mạnh giải phóng và sáng tạo của nó, khi nó được xác định bằng sự phá hủy các trật tự cũ và bằng thắng lợi của tính hợp lý khách quan hay công cụ. Nó cũng khó chống cự lại với những sức mạnh đối địch, cũng như sự kêu gọi cao thượng khó chống lại các quyền con người và sự gia tăng của thuyết khác biệt và chủ nghĩa chủng tộc.

Nhưng có nên chuyển sang phe bên kia và tán thành sự trở lại mạnh mẽ của các thứ chủ nghĩa dân tộc, các thứ chủ nghĩa riêng biệt, các thứ chủ nghĩa toàn thống, dù có tính tôn giáo hay không dường như đang tiến bước hầu khắp mọi nơi, ở những nước hiện đại hóa nhất cũng như ở những nước bị một sự hiện đại hóa cưỡng bức làm cho đảo lộn nhiều nhất? Để hiểu sự hình thành của những phong trào ấy, chắc chắn phải đặt ra một câu hỏi có tính phê phán đối với ý tưởng về tính hiện đại như nó đã được phát triển ở phương Tây, nhưng điều đó không thể nào biện minh cho sự từ bỏ cùng một lúc cả tính hiệu quả của lý trí công cụ, sức mạnh giải phóng của tư duy phê phán và chủ nghĩa cá nhân.

Như vậy là chúng ta đã đi tới điểm xuất phát của cuốn sách này. Nếu chúng ta không muốn trở về với truyền thống và tính cộng đồng, thì chúng ta phải tìm kiếm một định nghĩa mới cho tính hiện đại và một lý giải mới cho lịch sử "hiện đại” của chúng ta, mà nó thường chỉ được hiểu như sự lên ngôi, vừa tất yếu vừa giải phóng, của lý trí và của sự thế tục hóa. Nếu như tính hiện đại không thể chỉ được định nghĩa như sự hợp lý hóa và nếu như, ngược lại, coi tính hiện đại như một luồng những thay đổi không ngừng - cách nhìn này không chú trọng tới lohic của quyền lực và sự chống cự của những căn tính văn hóa thì chẳng phải rõ ràng là tính hiện đại được xác định chính bằng sự tách rời ngày càng tăng của thế giới khách quan, được lý trí tạo ra theo những qui luật thiên nhiên, khỏi thế giới của tính chủ thể, trước hết đó là thế giới của chủ nghĩa cá nhân, hay nói chính xác hơn, thế giới của một sự kêu gọi hướng tới tự do cá nhân, đó sao? Tính hiện đại đã đoạn tuyệt với thế giới thiêng liêng vừa có tính tự nhiên vừa có tính thần thánh, trong suốt đối với lý trí và đó cũng là thế giới được tạo ra. Tính hiện đại không thay thế nó bằng thế giới của lý trí và của sự thế tục hóa, bằng cách đẩy những mục đích cuối cùng vào một thế giời mà con người không thể nào đạt tới được, nó đã bắt phải tách một vhủ thể từ trên trời xuống mặt đất, hóa thành người, khỏi thế giới của các đồ vật được các kỹ thuật điều khiển. Nó đã thay thế sự thống nhất của một thế giới được ý chí thần thánh, lý trí hay lịch sử, tạo ra bằng tính nhị nguyên của hợp lý hóa và chủ thể hóa.

Đó sẽ là những bước di của cuốn sách này. Trước tiên, nó sẽ nhắc lại thắng lợi của những quan niệm duy lý về tính hiện đại, bất chấp sợ chống cự của thuyết nhị nguyên Kitô giáo đã từng thúc đẩy tư tưởng của Descartes, thắng lợi của các lý thuyết về quyền tự nhiên và của tuyên bố về các quyền con người. Tiếp đó, nó sẽ dõi theo trong tư tưởng cũng như trong thực tiễn xã hội, sự hủy hoại của ý tưởng về tính hiện đại ấy, cho tới khi xẩy ra sự tách rời hoàn toàn giữa một hình ảnh của xã hội như một luồng những biến đổi không thể kiểm soát được, trong đó các tác nhân dựng lên những chiến lược tồn tại hay chiếm lĩnh của mình, với một cái tưởng tượng hậu hiện đại về văn hóa. Cuối cùng, nó sẽ đề nghị định nghĩa lại tính hiện đại như mối liên hệ đầy căng thẳng giữa lý trí và chủ thể, giữa hợp lý hóa và chủ thể hóa, giữa tinh thần Phục Hưng và tinh thần cải cách, giữa khoa học và tự do. Lập trường này cũng khác xa với chủ nghĩa hiện đại đang suy thoái và chủ nghĩa hậu hiện đại với bóng ma của nó lang thang khắp nơi.

Phải tiến hành trận chiến đấu chủ yếu về phía nào đây? Chống sự kiêu căng của hệ tư tưởng hiện đại chủ nghĩa hay chống lại sự hủy hoại của bản thân ý tưởng về tính hiện đại? Những người trí thức thường chọn câu trả lời thứ nhất. Nếu như thế kỷ chúng ta hiện ra trước các nhà công nghệ và các nhà kinh tế học như thế kỷ của tính hiện đại chiến thắng, thì về mặt trí tuệ nó lại bí thống trị bởi những ngôn từ chống chủ nghĩa hiện đại. Thế nhưng, hiện nay, chính nguy cơ kia theo tôi là nguy cơ hiện thực nhất, đó là nguy cơ tách rời hoàn toàn giữa hệ thống và các tác nhân, giữa thế giới kỹ thuật hay kinh tế và thế giới của tính chủ thể. Xã hội chúng ta càng giống với một doanh nghiệp đấu tranh để sống còn trên một thị trường quốc tế chừng nào, thì đồng thời, sự ám ảnh về một căn tính lại càng lan rộng chừng ấy, căn tính này không còn được xác định chỉ về mặt xã hội, dù đó là chủ nghĩa cộng đồng mới của các nước nghèo hay của chủ nghĩa cá nhân tự say mê quá mức của các nước giàu. Sự tách rời hoàn toàn giữa đời sống công cộng và đời sống riêng tư sẽ đưa tới thắng lợi của các thứ quyền lực, mà những quyền lực này không còn được xác định chỉ về mặt quản lý và chiến lược nữa, và đối điện với chúng, số đông sẽ eo vào một không gian riêng tư, khiến tạo ra một cái vực thẳm không đáy ở đâu có không gian công cộng, xã hội và chính trị, và ở đâu các nền dân chủ hiện đại đã sinh ra. Trong một tình thế như vậy, làm sao lại không nhìn thấy một sự thụt lùi về những xã hội trong đó những kẻ mạnh và dân chúng từng sống trong những vũ trụ tách biệt, vũ trụ của những chiến binh đi chinh phục, một bên, và vũ trụ của những người dân bình thường bị khép kín trong một xã hội địa phương? Nhất là, làm sao lại không nhìn thấy rằng thế giới hiện đang bị phân chia sâu sắc hơn bao giờ hết giữa Bắc, nơi ngự trị chủ nghĩa công cụ và quyền lực và Nam, đang tự giam mình vào mối lo ngại bị mất căn tính?

Nhưng sự hình dung này không phù hợp với toàn bộ hiện thực. Chúng ta không sống hoàn toàn trong hoàn cảnh hậu hiện đại, tách rời hoàn toàn giữa hệ thống và tác nhân, ít ra đây cũng là trong một xã hội hậu công nghiệp mà tôi thích gọi nó là xã hội chương trình hóa hơn do các ngành công nghiệp văn hóa, chăm sóc y tế, giáo dục, thông tin chiếm vai trò trung tâm, trong đó một cuộc xung đột trung tâm đang diễn ra giữa những bộ máy sản xuất văn hóa và sự tự vệ của chủ thể cá nhân. Xã hội hậu công nghiệp này là một trường hoạt động văn hóa và xã hội còn mạnh hơn xã hội công nghiệp đang suy thoái. Chủ thể không bị tan vào tính hậu hiện đại, vì nó đang tự khẳng định trong cuộc đấu tranh chống lại những quyền lực đang áp đặt sự thống trị của chúng nhân danh lý trí. Chính việc mở rộng vô hạn những việc can thiệp của các quyền lực đang giúp cho chủ thể thoát khỏi sự tự đồng nhất với những công việc của nó, và thoát khỏi những thứ triết học quá lạc quan về lịch sử.

Làm thế nào để tạo ra lại những khâu trung gian giữa kinh tế và văn hóa? Làm thế nào để sáng tạo ra lại đời sống xã hội và đời sống chính trị, nói riêng, mà sự tan rã của nó hiện nay ở hầu khắp thế giới là sản phẩm của sự tách rời giữa những công cụ và những ý nghĩa, giữa những phương tiện và những mục đích? Đó sẽ là sự nối tiếp về mặt chính trị của những suy nghĩ này, nhằm cứu ý tưởng về tính hiện đại khỏi hình thức chinh phục và tàn bạo mà phương Tây đã đem lại cho nó, đồng thời khỏi cuộc khủng hoảng mà nó phải chịu từ một thế kỷ qua. Sự phê phán tính hiện đại được trình bày ở đây chính là muốn tách nó ra khỏi một truyền thống lịch sử chỉ quy nó thành hợp lý hóa cũng như muốn đưa vào đây chủ đề về chủ thể cá nhân và chủ thể hóa. Tính hiện đại không dựa vào một nguyên lý độc nhất, và lại càng ít dựa hơn vào sự phá hủy đơn giản những trở lực đối với sự thống trị của lý trí, tính hiện đại được tạo nên từ sự đối thoại giữa lý trí và chủ thể. Không có lý trí, chủ thể tự trói mình vào sự ám ảnh về căn tính của nó, không có chủ thể, thì lý trí lại trở thành công cụ cho sức mạnh. Trong thế kỷ này, chứng ta đã biết tới cả sự chuyên chính của lý trí lẫn những sự suy đồi toàn trị của chủ thể, liệu hai nhân vật của tính hiện đại ấy (lý trí và chủ thể) từng chống lại nhau hoặc không biết tới nhau cuối cùng có nói chuyện được với nhau và học được cách cộng sinh không?

Lời khuyên về việc đọc cuốn sách này

Chính trong phần thứ ba, tôi đã trình bày những tư tưởng của mình về tính hiện đại như mối liên hệ căng thẳng giữa lý trí và chủ thể. Nếu không có gì bất tiện lắm, xin bạn đọc bắt đầu từ phần này. Còn nếu bạn đọc quan tâm tới khái niệm "cổ điển" về tính hiện đại khái niệm này đồng nhất nó với hợp lý hóa thì có thể tìm thấy lịch sử chiến thắng và sụp đổ của nó trong hai phần đầu.

Nguồn:
Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Khoa học cơ bản thế kỷ XX đối với một số vấn đề lớn của Triết học

    11/11/2014Lê Văn GiạngNhằm giới thiệu với bạn đọc một cách nhìn tương đối toàn diện về những thành tựu của khoa học cơ bản thế kỷ XX, mà đặc biệt là mối quan hệ tương hỗ giữa khoa học cơ bản và triết học trong thế kỷ này, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Khoa học cơ bản thế kỷ XX đối với một số vấn đề lớn của triết học của tác giả Lê Văn Giạng...
  • Trái đất, tổ quốc chung - tuyên ngôn cho thiên niên kỷ mới

    29/08/2006Chu Tiến Ánh (dịch)Trái đất chính là một hệ thống tự tổ chức, "một khối tổng thể sinh học 1 nhân học phức hợp, trong đó sự sống nảy sinh từ lịch sử của trái đất và nhân loại nảy sinh từ sự sống của trái đất. Mối quan hệ giữa nhân loại với tự nhiên không thể bị hình dung theo cách quy giản hay tháo rời. Nhân loại là một thực thể mang tính chất hành tinh và sinh quyển. Con người vừa là tự nhiên, vừa là siêu nhiên, bởi lẽ mặc dầu bắt rễ trong tự nhiên vật lý và sống động, nhưng lại trỗi lên khỏi cái tự nhiên ấy và tự phân biệt với tự nhiên ấy bằng văn hóa, tư tưởng, và lương tâm, ý thức"...
  • Quân Vương

    17/08/2006Vũ Mạnh Hồng & Nguyễn Hiền Chiđược coi là cha đẻ của khoa lý luận chính trị hiện đại nền lý luận dựa trên những sự kiện thực nghiệm, phi tôn giáo và không rao giảng đạo đức. Đối với những người nghiên cứu triết học, Machiavelli được đánh giá như một trong những tác gia hàng đầu cần nghiên cứu trong lĩnh vực triết học chính trị. Làm nên vai trò to lớn ấy của ông một phần là nhờ vào tác phẩm Quân vương...
  • Minh triết phương Đông & Triết học phương Tây

    07/07/2006Nguyên Ngọc (Dịch & giới thiệu)Viết công trình này Francois Jullien qua lại giữa hai bờ của thượng lưu dòng sông tư tưởng nhân loại: tư tưởng TrungHoa cổ dại (là cơ sở để nghiên cứu minh triết phương Đông) và triết lý Hy Lạp cổ đại (là căn cứ để xác định tư duy triết học phương Tây)...
  • Triết học phương Tây hiện đại

    02/07/2006Lưu Phóng Đồng (dịch giả: Lê Khánh Trường)Đây là quyển giáo trình triết học hướng đến thế kỷ 21 trên cơ sở lấy thái độ thực sự cầu thị của chủ nghĩa Marx mà đánh giá lại toàn bộ triết học phương Tây hiện đại và mối quan hệ của nó với triết học Mácxít. Tác giả sẽ lần lượt trình bày với bạn đọc quan tâm đến lĩnh vực này một dòng triết học với nhiều trào lưu, trường phái, chủ nghĩa gắn với nhiều triết gia nổi tiếng của triết học phương Tây hiện đại. Chính sự phong phú và đa dạng đó đã tạo cho triết học học phương Tây hiện đại một bức tranh nhiều màu sắc...
  • Những chủ đề cơ bản của Triết học phương Tây

    30/11/2005Phạm Minh LăngCác nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác còn đánh giá rất cao những công trình, những ý tưởng của những người đi trước. Engels luôn kêu gọi chúng ta hãy nghiên cứu và nắm vững lịch sử triết học của thế giới, cái kho tàng đầy ắp những giá trị tư tương của nhân loại....
  • Tư duy hệ thống: Quản lý hỗn độn và phức hợp

    27/09/2005Cái mới trong khoa học quản lý là quản lý tình thế hỗn độn và phức hợp, trên cơ sở quán triệt tư duy hệ thống. Nhà khoa học quản lý Jamshid Gharajedaghi cung cấp cho các nhà tổ chức và quản lý, cho giới kinh doanh và đông đảo độc giả những kiến thức cần thiết về tư duy hệ thống, bao gồm triết học hệ thống, các lý thuyết hệ thống và phương pháp luận hệ thống, đồng thời trình bày những ứng dụng cụ thể các lý thuyết nói trên vào việc nghiên cứu và thiết kế một số dự án ở các công ty và các cơ quan chính phủ nhiêu nước, mà bản thân tác giả đã tham gia và có vai trò tư vấn chủ chốt...
  • Sự va chạm của các nền văn minh

    04/07/2005Lam KiềuVài năm gần đây, bạo lực liên tiếp leo thang ở nhiều nơi trên thế giới, các cuộc khủng bố đẫm máu đe dọa cuộc sống của bao người dân vô tội. Hơn thế nữa, các tài sản văn hoá vật thể, minh chứng cho sức mạnh vĩ đại của con người cũng bị phá huỷ. “Trong các cuộc chiến tranh giữa các nền văn hoá, thì văn hoá bao giờ cũng là kẻ chiến bại”. Đó là một trong rất nhiều nhận xét sâu sắc và đầy tâm huyết mà Samuel Shungtington đưa ra trong cuốn sách của mình.
  • xem toàn bộ