Trương Vĩnh Ký, người mở đầu cho cuộc đối thoại Đông Tây

03:06 CH @ Thứ Ba - 14 Tháng Bảy, 2009

Tranh cãi là mẹ của chân lý

Tục ngữ Nga

Trương Vĩnh Ký(l) không phải là người đầu tiên tiếp xúc với văn hóa phương Tây, nhưng có lẽ là người đầu tiên tiếp xúc có tiếp biến (acculturation). Nhớ lại các tác giả Tây dương gia tô bí lục, mặc dù đã sống nhiều năm ở La Mã, bản thân lại là linh mục, mà vẫn nhìn phương Tây nói chung và Kitô giáo nói riêng bằng con mắt đầy thành kiến của Nho giáo: kẻ khác là kẻ thù, các văn hóa phi Khổng giáo đều là man ri mọi rợ cả. Chấp nhận cái lý của kẻ khác, thấy được ngoài trời mình còn có trời khác, thì mới có đối thoại. Và trong văn hóa, đối thoại không phải để giành trọn phần thắng về mình mà để nhận thức sâu thêm về mình, về người nhằm đạt tới một chân lý cao hơn cho cả hai bên. Ở Việt Nam, có thể nói, Trương Vĩnh Ký là người mở đầu cho cuộc trò chuyện Đông - Tây.

Cuộc đối thoại Đông Tây này, ngay từ đầu tiên đã bị nhiễu, bởi những éo le của lịch sử. Người tiếp nhận được văn hóa phương Tây, tức văn hóa hiện đại, thì khi cất tiếng với đồng bào của mình khó mà thanh thoát trọn vẹn, bởi kẻ đó là tín đồ Kitô giáo, tôn giáo của kẻ xâm lược, thứ tôn giáo mà ngay từ khi đến mảnh đất này đã bị coi là mắc một thứ tội tổ tông nào đó. Với Trương Vĩnh Ký (cũng như với Nguyễn Trường Tộ) còn thêm một nan vấn nữa là có thời ông làm việc với người Pháp. Những bi kịch như vậy của văn hóa Việt Nam trên hành trình hiện đại hóa dường như là một hằng số. Nếu không giải tỏa được tâm lý đối kháng và phương pháp tư tưởng trắng đen rõ ràng thì sẽ ảnh hưởng không ít đến tiến độ hội nhập với văn hóa thế giới.

Có lẽ, Trương Vĩnh Ký cũng như nhiều người Việt Nam có dịp đặt chân đến châu Âu, chứng kiến tận mắt sức mạnh vật chất của phương Tây, có được một cái nhìn về Việt Nam khác với cái nhìn của những người Việt Nam khác ở trong nước, nên cho rằng đối đầu quân sự với Pháp là một việc làm có tính ứng phó, một hành động sát thân thành nhân cao quý. Ông chọn một con đường khác, lâu dài hơn, tuy không phù hợp với tâm lý phản ứng tức thời của số đông, nhưng chắc chắn hơn. Đó là canh tân đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, theo con đường phương Tây. Đó là con đường đi của văn hóa. Trong hoàn cảnh bấy giờ phải nói đây là một tư duy mới, phi truyền thống của một trí thức mới, trí thức Tây học đầu tiên của Việt Nam.

Thực ra, xét cho kỹ thì đó là một ứng xử quen thuộc của Việt Nam trong thế đối phó với Trung Hoa. Học tập họ, trở nên giống họ, để đủ sức mạnh chống lại họ. Nhưng miếng vinavo (Việt Nam võ) gậy ông đập lưng ông lần này lại không được người Nam đồng lòng sử dụng với người Tây. Hẳn do Pháp Nam không phải là những nước đồng văn? Hay do kiểu tư duy Nho giáo cho văn minh phương Tây là văn minh vật chất, thô lậu, còn văn minh phương Đông là văn minh tinh thần cao quý? Hiểu được sự "vô lối", sự "lộn trái của mặc cảm tự ty" của thứ lý luận tiên nghiệm kia, thấy được sức mạnh vật chất của phương Tây, xét cho cùng, cũng bắt nguồn từ văn hóa, Trương Vĩnh Ký muốn giới thiệu văn hóa phương Tây cho người Việt và văn hóa Việt Nam cho người phương Tây để tạo ra một sự hiểu biết, một mặt tránh được những xung đột không cần thiết, mặt khác hướng suy nghĩ của toàn dân vào việc đổi mới, canh tân đất nước. Đó là việc bình sinh của Trương Vĩnh Ký, còn công với tội, những khái niệm nhiều khi có tính quy ước ấy là việc hậu nghiệm của người sau.(2)

Để đổi mới đất nước, phải xây dựng một căn bản của văn hóa Việt Nam. Và Trương Vịt h Ký nhìn thấy nó ở sự kết hợp văn hóa Đông Tây. Nhưng vấn đề là kết hợp như thế nào? Khác với các nhà Nho có Tây học đương thời, Trương Vĩnh Ký là người nắm được hai rễ cái của nền văn hóa phương Tây là văn minh Hy La và Kitô giáo. Ông lại sử dụng thành thạo tiếng Lanh là ngôn ngữ của giới trí thức phương Tây bấy giờ. Trong chuyến đi Pháp làm thông ngôn cho sứ đoàn Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, chàng thanh niên 26 tuổi ấy, đã tiếp xúc trực tiếp với những nhà bác học nổi tiếng thuộc các lĩnh vực triết học, khoa học, văn học, như Duruy, Victor Hugo, Renan, Lettré, Paul Bert... Hơn nữa, việc tự học Nho giáo khiến Trương Vĩnh Ký thoát khỏi lối học thi cử, khuôn sáo và gò bó, để tiếp thu được tinh hoa của học thuyết này. Ở Trương Vĩnh Ký người ta thấy có sự kết hợp của một trí nhớ Nho giáo với lối tư duy phân tích, lối suy luận của khoa học thực nghiệm. Từ đó, căn bản văn hóa Việt Nam, theo Trương Vĩnh Ký, là sự kết hợp của khoa học phương Tây và đạo lý Nho giáo. Tất nhiên, ở đây là đạo lý chứ không phải đạo đức Đạo đức gắn chặt một thể chế, một giai đoạn lịch sử, một xã hội, nên nó có thể thay đổi, còn đạo lý thì có ý nghĩa phổ quát, tồn tại lâu dài. Nói vậy, không có nghĩa là văn hóa phương Tây không có đạo lý, mà bởi người Việt còn chưa quen với hình thức đạo lý này, nên giữ lấy đạo lý Nho học cũ. Hơn nữa, đạo lý Nho giáo ở chỗ thâm sâu nhất, tinh túy nhất cũng sẽ tham thông với Kitô giáo và văn hóa Pháp. Như vậy, cải cách xã hội là tiếp thu khoa học, kỹ thuật, các thể chế chính trị, luật pháp, giáo dục phương Tây trên cơ sở nền đạo lý Nho học, tức Nho giáo vẫn được lấy làm ý thức hệ cho cuộc canh tân. Như vậy Trương Vĩnh Ký không chỉ là người mở đầu cho công cuộc hiện đại hóa đất nước, mà quan trọng hơn còn vạch ra một đường lối cho công cuộc canh tân đó.

Trương Vĩnh Ký (1837-1898)

Ông là một nhà văn hóa sáng chói của Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX. Ông là một học giả tiên phong, chuyên tâm nghiên cứu học thuật, sáng lập nền báo chí Việt Nam và đóng vai trò khai sáng đối với văn học nước nhà.

>>Xem trang tác giả...

Thực hiện canh tân, cần phải có công cụ truyền bá mới. Đó là lý do Trương Vĩnh Ký hết sức chú trọng đến chữ quốc ngữ, một thứ chữ giản tiện, dễ học. Có thể nói, ông đã tái sinh cho quốc ngữ bằng việc kẻo nó từ chỗ chỉ là một công cụ tuyên truyền tôn giáo thành một công cụ văn hóa, từ chỗ là con hoang thành con chính thức, có địa vị ngang với chữ Nho và chữ Pháp, càng về sau càng hơn cả chữ Nho và chữ Pháp.

Để giữ vững đạo lý Nho giáo, theo gương Hồ Quý Ly và Quang Trung trước đây dịch ra chứ Nôm các sách kinh điển Nho gia, Trương Vĩnh Ký (làm các việc mà ngày nay chúng ta còn tiếp tục làm) dịch ra chữ quốc ngữ, giảng giải bằng chữ quốc ngữ những sách phổ thông như Tam tự kinh, Sơ học vấn tân, Minh tâm bảo giám, Tứ thư, Ngũ kinh... Trong thời buổi xã hội có nhiều thay đổi, đảo lộn, các giá trị mới còn chưa định hình, thì việc khẳng định cái giá trị cũ đã ổn định và bền vững để làm cơ sở tiếp thu văn hóa mới là việc làm cần thiết. Bởi vậy, cùng với việc dịch các tác phẩm kinh điển Nho gia, Trương Vĩnh Ký còn sưu tập, phiên âm ra quốc ngữ và chú giải những truyện nôm nổi tiếng như Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần cũng như những bài thơ liên quan đến việc giáo dục Huấn nữ ca, Thơ mẹ dạy con, Thơ dạy làm dân. Ông còn sưu tầm và giới thiệu rất nhiều truyện cổ tích, truyện dân gian, câu đố, câu hát...

Sách của Trương Vĩnh Ký thường được ghi chú thêm bằng tiếng Pháp cho những độc giả phương Tây muốn tìm hiểu văn hóa Việt Nam.

Ngoài ra, cũng nhằm mục đích trên, Trương Vĩnh Ký còn viết một số sách sử ký, địa dư Việt Nam bằng tiếng Pháp và soạn thảo từ điển Pháp - Việt và Việt - Pháp. Các sách viết cho độc giả phương Tây của Trương Vĩnh Ký chỉ nhằm một mục đích thông hiểu giữa hai nền văn hóa quá nhiều khác biệt, chứ không phải mục đích tuyên truyền tôn giáo chính trị. Bởi vậy, người ta chưa bao giờ thấy Trương Vĩnh Ký viết gì về Kitô giáo mà ông là một tín đồ.

Như vậy, đạo lý Nho giáo và dân tộc là chủ yếu trong các công trình biên soạn và phổ biến của Trương Vĩnh Ký. Dễ hiểu vì sao mà đương thời và cả về sau nữa đều coi Trương Vĩnh Ký không chỉ là nhà bác học tháp ngà mà còn là ông thầy dạy đạo lý cho toàn cõi Nam kỳ.

Cho đến nay, có lẽ, Trương Vĩnh Kỳ là một người biết nhiều ngoại ngữ nhất ở Việt Nam một phần bởi năng khiếu, phần khác bởi hoàn cảnh. Ngoài tử ngữ Latin được học một cách nghiêm túc ở trường đạo Pénang, còn các sinh ngữ khác đều tự học được trong các chuyến xuất ngoại đi châu Âu, Trung Đông và Trung Quốc. Theo nhiều tài liệu, ông nói thạo 15 ngữ Âu châu, 11 ngữ Á châu. Đồng thời, ông còn là một nhà ngữ học và ngữ văn học.

Về ngữ học, Trương Vĩnh Ký có 8 công trình đã được công bố hoặc còn ở dạng bản thảo, trong đó những công trình nổi bật là Khảo luận về sự tương đồng giữa các tiếng và chữ Á Đông (1882) và Ngữ pháp tiếng Việt (1883). Đánh giá cuốn thứ nhất, Luro viết: "Khảo luận về các ngôn ngữ. phương Đông (1882) là cuốn có công rất lớn thật độc đáo vì có lẽ đây là cuốn sách đầu tiên vế . ngừ học do một người bản xứ viết. Những cái nhìn về ngữ văn học của một người Á châu có thể bày tỏ cho các nhà ngữ học Âu châu một số sự kiện mà chắc chắn họ đã không để ý tới". Jean Bouchot, người đầu tiên viết tiểu sử Trương Vĩnh Ký, cũng cho rằng đây là một "công trình nghiên cứu vững chắc về ngữ học chứng tỏ sự dễ dàng của ông nhờ thiên phú và lý luận chín chắn mà ông có". Một điều đáng lưu ý là Trương Vĩnh Ký sống cùng thời với Ferdinand de Saussure nhưng không hề biết đến nhà cách mạng ngữ học này mà lại có cái nhìn về ngữ học giống như ông. Có thể nói, ở tác phẩm này, Trương Vĩnh Ký bộc lộ một khả năng làm khoa học thuần túy với những khám phá về lý thuyết. Cùng với những phát minh khoa học về việc sinh con theo ý muốn, việc trừ sâu không phải bằng thuốc sâu mà bằng những sinh vật khác càng chứng tỏ khả năng đi vào khoa học cơ bản của Trương Vĩnh Ký. Nhưng yêu cầu của dân chúng, của xã hội bấy giờ không phải là thứ xa xỉ phẩm này. Bởi vậy, ông phải lao vào những lao động phổ thông như dịch thuật, sưu tầm, dạy học, ra báo, xuất bản, công bố những mảnh vụn (văn hóa, văn học...) Đây là số phận của các nhà bác học sống ở những quốc gia mà mặt bằng học thuật thấp hơn thế giới. Liệu có thể xây được những ngôi nhà cao khi mà chưa có nền móng? Cuốn sách ngữ học thứ hai, Ngữ pháp tiếng Việt là một tác phẩm có tính chất thực dụng. Nhưng đây là cuốn giáo trình ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên được viết theo quan điểm phương Tây. Ông có nhiều nhận xét về tiếng Việt còn hiện đại cho đến ngày nay bởi theo quan điểm cấu trúc - chức năng. Hơn nữa, ông còn phát hiện nhiều đặc trưng của ngữ pháp tiếng Việt như các từ cái, con, chiếc... những trạng từ chỉ mức độ trước tính từ như trắng (bóc), đen (thui)... các từ có ý nghĩa "cách" trong tiếng Việt Như vậy, so với đa số các nhà ngữ học hiện nay, ông còn ít "dĩ âu vi trung" hơn họ. Tóm lại, theo Cao Xuân Hạo, "Trong mấy cuốn sách này không thiếu những phát hiện quan trọng mà ngày nay chẳng mấy ai nhắc đến, trong khi lẽ ra nó phải được những người đi sau tiếp thu và khai triển, đào sâu hơn nữa". Đó là một điều đáng buồn cho các nhà nghiên cứu Việt Nam, mỗi thế hệ hầu như lại cứ làm lại từ đầu mà không biết hoặc bỏ qua thành quả của bao người đi trước. Không có sự tiếp tục này, họ không thể đi xa và đi nhanh trong cuộc chạy đua tiếp sức vào thế giới hiện đại. Điều này, phần nào do những thành kiến chính trị với khoa học, phần khác do dân ta không có thói quen bảo quản văn khố, bảo tồn các sinh hoạt dân chúng nên dễ làm suy giảm trí nhớ dân tộc.

Bởi vậy, nên đánh giá lại nhân cách chính trị Trương Vĩnh Ký dựa vào ý kiến người cùng thời với ông và cuộc sống thanh bần của ông, để từ đó xóa bỏ những thành kiến và nhận lại cái gia tài văn hóa đồ sộ do ông để lại. Vì Trương Vĩnh Ký không chỉ là một nhà bác học, có tầm cỡ thế giới, mà còn là một trong những nhà cách tân văn hóa đầu tiên của Việt Nam mở đường cho thế kỷ sau.


(l) Trương Vĩnh Ký (1837-1885) sinh tại Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, Bến Tre, trong một gia đình theo đạo Thiên Chúa. Học chữ Hán từ nhỏ, sau học trường đạo Pinhalu (Cămpuchia), chủng viện Dulaima (Penang, Mã Lai). Năm 1860 làm thông ngôn cho Pháp, 1863 theo phái đoàn Phan Thanh Giản sang Pháp; từ năm 1866 làm Hiệu trường Trường Thông ngôn Sài Gòn; năm 1869 làm chủ bút tờ Gia định báo. Năm 1872 làm ủy viên Hội đồng thành phố Chợ Lớn; năm 1877 làm ủy viên Hội đồng thành phố Sài Gòn; năm 1876 được Paul Bert, Toàn quyền Đông Dương, cử ra Huế làm việc ở Cơ mật viện, cố vấn cho vua Đồng Khánh. Sau khi P.Bert chết, ông về Sài Gòn dạy học và viết sách cho đến lúc mất.
(2) Bằng Giang trong bài Trương Vĩnh Ký với "Cuốn sổ bình sinh" viết: "Sự thành công của giải pháp (phi truyền thống) này tuỳ thuộc vào thành tâm, thiện ý của đối phương (Pháp). Sai lầm của giải pháp phi truyền thống là ở đó... Theo giải pháp truyền thống, có thất bại cũng còn được tiếng anh hùng. Ngược lại, âm thầm theo giải pháp phi truyền thống mà không thành công thì bị coi là có tội." (trong Thế kỉ XXI nhìn về Trương Vĩnh Ký, Trẻ, 2002, tr.28).

Nguồn:
Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Báo chí - nhà báo và sự hình thành tầng lớp trí thức hiện đại đầu thế kỷ XX

    21/06/2017Trần Văn ToànKhái niệm trí thức hiện đại ở đây được hiểu trong sự đối nghĩa với trí thức - kẻ sĩ trong xã hội Việt Nam truyền thống. Sự hiện diện của tầng lớp trí thức hiện đại, trên thực tế, mới chỉ xuất hiện ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Bài viết này sẽ tập trung làm sáng tỏ vai trò của báo chí - một thiết chế văn hóa có nguồn gốc phương Tây - đã đóng vai trò như một dung môi, một tiền đề vật chất cho sự xuất hiện của tầng lớp trí thức hiện đại như thế nào...
  • Phương Đông và phương Tây

    07/11/2015Phạm Quỳnh (sinh (17/12/1892 - mất 6/9/1945)Chúng ta sống trong một thời kỳ khủng hoảng của lịch sử thế giới. Đấy không phải là một lời sáo rỗng tầm thường, một công thức mơ hồ và có phần cường điệu. Đấy là một nhận xét cần thiết nếu ta nghĩ đến những hậu quả kinh khủng của bi kịch do cuộc va chạm giữa Phương Đông và Phương Tây gây ra trên thế giới...
  • Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898)

    11/07/2009Nột nhà văn hóa sáng chói của Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX. Ông là một học giả tiên phong, chuyên tâm nghiên cứu học thuật, sáng lập nền báo chí Việt Nam và đóng vai trò khai sáng đối với văn học nước nhà...
  • Tiếng Việt - Những công lao bị quên lãng

    08/07/2009Cao Xuân HạoTrong lịch sử của ngành Việt ngữ học, ông là một trong những tác giả ít bị những định kiến "dĩ Âu vi trung" chi phối hơn cả, nhất là khi đem so với sách học tiếng Việt ngày nay. Kể cho đến bây giờ, ít có cuốn sách nào cung cấp cho ta nhiều thông tin về ngữ pháp tiếng Việt như mấy cuốn sách không lấy gì làm dày của ông. Trong mấy cuốn này không thiếu những phát hiện quan trọng mà ngày nay chẳng mấy ai nhắc đến, trong khi lẽ ra nó phải được những người đi sau tiếp thu và khai triển, đào sâu hơn nữa.
  • Những “kỳ biến” trong làng báo đầu thế kỷ XX

    20/06/2009Trần Hòa BìnhVề cơ bản, đến những năm 30 của thế kỷ XX, các thể loại báo chí Việt Nam đã định hình khá rõ nét, có phần được chiếu theo những tiêu chí của báo chí phương Tây. Bên cạnh những thể loại cũ, một số thể loại mới xuất hiện, tạo nên những "kỳ biến" trong làng báo đầu thế kỷ XX.
  • Sự công bằng lịch sử được trả lại (*)

    16/06/2009Nguyên NgọcLà một trong những người dịch ông, tôi thấy có lẽ Phạm Quỳnh là một trong những người Việt viết tiếng Pháp hay nhất, một thứ tiếng Pháp trong sáng, sang trọng, trang nhã và đầy âm vang, chỉ có thể có được trên cơ sở một vốn tri thức uyên thâm về văn hóa và văn minh không chỉ của Pháp mà còn của cả phương Tây cổ kim.
  • Cách đây một thế kỷ, những người khổng lồ

    12/05/2009Nguyên NgọcQuả thực, hồi đầu thế kỷ XX, chúng ta từng có được một thế hệ vàng. Quả thật đấy là thời kỳ của những người khổng lồ. Để có được ngày hôm nay của đất nước, không phải chỉ có cách mạng và chiến tranh. Hoặc nói cho đúng hơn, chính những con người như vậy, vào một thời điểm chuyển động quan trọng của lịch sử, đã góp phần không hề nhỏ chuẩn bị tinh thần, trí tuệ, cả chí khí nữa cho dân tộc để có được cách mạng thành công và chiến tranh giải phóng thắng lợi.
  • Ảnh hưởng của văn hóa phương Tây qua sự hiện diện của tờ báo

    09/04/2009Trần Văn ToànSự ra đời của báo chí, lẽ tự nhiên, làm xuất hiện một chân dung mới: ký giả, hay nhà báo. Những danh xưng này, trong ngôn ngữ đương đại thiên về ý nghĩa nghề nghiệp thuần túy nhưng ở vào thời điểm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX lại có nét nghĩa chỉ một nhóm có vai trò ưu đẳng trong xã hội (status group). Với quốc dân, họ là đại diện cho luân lý và tri thức, có chức phận dẫn dắt, hướng đạo. Trong một xã hội vốn có truyền thống trọng quan tước, ký giả thậm chí được liệt vào tầng lớp “quan lại cao cấp”.
  • Vấn đề phương Đông và phương Tây

    25/11/2008Phạm QuỳnhCó chăng một vấn đề Phương Đông và Phương Tây? Đặt ra vấn đề về các quan hệ giữa hai phần đó của thế giới do sự đối lập hay sự đối kháng của chúng là đúng hay sai? Giữa chúng có những khác biệt đặc trưng cho phép một sự đối lập như vậy không?
  • Hòa nhập dòng chảy văn minh & tiến bộ của nhân loại

    12/01/2007Dự án Tủ sách tinh hoa tri thức thế giới được thành lập nhằm tổ chức chọn lựa dịch và xuất bản những cuốn sách nền tảng của nền học thuật thế giới. Đồng thời, để hỗ trợ mạnh mẽ hơn nữa cho việc du nhập tri thức tinh hoa thông qua con đường dịch thuật ngày 9/01/2007 này. Quỹ dịch thuật mang tên Phan Chu Trinh, nhà trí thức cách tân của Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thể kỷ XX được thành lập...
  • Một trường hợp mở đất

    29/06/2006Phạm Hoàng QuânĐể đạt được thành quả trên, ông phải chịu khó ra công học hỏi kinh nghiệm qua những lần tiếp xúc với những người nước ngoài và quan trọng nhất là do ông có tính thanh liêm, công bằng...
  • xem toàn bộ

Nội dung khác