Chỉ bán phở mới là quán phở?

01:54 CH @ Thứ Ba - 15 Tháng Sáu, 2010

>> Cùng chủ điểm:

Hai cha con ông chủ một quán phở gia truyền nổi tiếng không đồng ý với nhau: người cha muốn chỉ tiếp tục bán phở thôi; người con, có óc năng động, muốn bổ sung thêm mấy món điểm tâm nữa. Nhưng, “bổ sung” tới mức độ nào thì quán phở vẫn còn là quán phở?

Hai cha con vô hình trung đụng đến một trong những câu hỏi quan trọng nhất và cũng nhức đầu nhất của triết học: cái gì khả biến, cái gì bất biến? Cái gì làm nên bản chất của một sự vật? Triết học, từ thời cổ đại, cũng xuất phát từ kinh nghiệm đời thường: cái cây vẫn là cái cây dù mùa thu làm rụng lá. Chặt cái cây tới mức nào thì nó vẫn có thể hồi sinh? Cưa tận gốc thì tuy vẫn còn bộ rễ nhưng không còn là cái cây nữa. Cái cây đã bị phá huỷ tận “bản thể” của nó.

Con người cũng vậy. Xem lại tấm ảnh lúc tuổi thơ, ta nhận ra đó là “tuổi thơ của mình” chứ không phải của một đứa trẻ khác. Chừng nào mình còn xưng “tôi” là còn muốn nói đến cái gì không thay đổi, không thể lẫn lộn, dù tóc đã phai màu! Lập tức, ta vấp ngay một khó khăn: cái thực sự tạo nên sự vật thì không thể dùng mắt để nhìn mà phải dùng đầu để suy nghĩ. Nhưng, suy nghĩ từ cái gì? Cũng phải từ những gì mắt thấy tai nghe! Những gì mắt thấy tai nghe đều là khả biến, vô thường, vậy có thể xem những gì khả biến, vô thường là bản chất của sự vật? Nói thế cũng có nghĩa là sự vật không hề có bản chất! Song, thực tế cãi lại: khi mua một món hàng, ta muốn mua một món hàng thật, dù “cái thật” ấy ẩn sâu trong món hàng, khó nhận thấy. Gia đình, xã hội cũng thế. Sống trong một gia đình, một tổ chức, một xã hội, đâu phải ai lo phận nấy mà còn có một mục tiêu chung. Khi mục tiêu này mất đi, gia đình, tổ chức, xã hội không còn là chính nó nữa. Vậy, ta phải có ý thức về một cái bản thể thường tồn thì mới có thể nhận ra lúc nào nó bị đe doạ chứ? Hai cách đặt vấn đề tương phản như thế làm các triết gia điên đầu trong hơn hai ngàn năm nay!

Ở phương Tây, Aristoteles là người nỗ lực giải quyết vấn đề này. Ông khẳng định: bản chất của sự vật là bản thể của nó. Vậy bản thể là gì? Là cái gì “nằm bên dưới” sự vật, là cái gì bền vững mà nếu không có nó, không còn sự vật nữa. Hãy thử đọc hai cặp lục bát sau đây trong Truyện Kiều theo kiểu… triết học:

(1) Thuý Kiều sắc sảo, khôn ngoan
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành

(2) Thịt da ai cũng là người
Lẽ nào hồng rụng thắm rời chẳng đau!

Câu (1) cho biết cô Kiều là như thế nào. Nhưng, các đặc điểm ấy không ổn định (cô Kiều có khi cũng… dại dột!) và nhất là, không thể tồn tại độc lập mà không gắn với cô Kiều. Chúng có thể thay đổi, nghĩa là, không nhất thiết cứ như thế mãi (hậu vận cô Kiều đâu có… vô duyên!). Vì thế, Aristoteles bảo: Thuý Kiều (như là cái gì cá biệt) là bản thể, còn “sắc sảo, khôn ngoan, vô duyên…” là những tuỳ thể (accidents, từ nghĩa gốc là ngẫu nhiên, tình cờ). Nhưng câu (2) thì khác, con người không thể lúc thì có “thịt da”, lúc thì không. Vậy nó nói lên con người là gì. Cái không thể thay đổi ấy được gọi là những thuộc tính. Thuộc tính thì tất nhiên không tồn tại độc lập, nhưng những thuộc tính nào thuộc về bản chất của sự vật thì cũng là bản thể, thậm chí còn là bản thể theo nghĩa cao hơn cả những sự vật cá biệt. Vậy, theo Aristoteles, ta có hai loại bản thể: cái cá biệt (Thuý Kiều) và cái phổ biến (“thịt da”, “người”…) Ông gọi cái trước là bản thể số một, cái sau là bản thể số hai. Tưởng xong, nhưng rồi lại thấy không ổn! Việc phân biệt ấy chẳng rõ ràng chút nào. Khi Thuý Kiều khen Từ Hải: “Rằng: Từ là đấng anh hùng!”, thì nếu rút bỏ thuộc tính “anh hùng” đi, có còn là Từ Hải hay chỉ là một người trùng tên?

Platon, thầy của Aristoteles, làm ngược lại; ông chỉ quan tâm đến một phương diện thôi. Chỉ có cái phổ biến (“người”, “thịt da”, “sắc sảo”, “khôn ngoan”…) mới là những cái duy nhất có thật. Ông là tổ sư của thuyết duy tâm khách quan, vì theo ông, những cái phổ biến ấy là thuần tuý, hoàn hảo, mẫu mực chứ không nhếch nhác khi trở thành những thuộc tính ở trần gian, vì thế, chúng ở một thế giới khác, trong khi những sự vật cá biệt trên thế gian này chỉ là những bản sao tồi tàn, mờ nhạt của chúng.

Thomas Aquino, đại triết gia Kitô giáo thời Trung cổ, đồng ý với Aristoteles là phải xuất phát từ những sự vật và bản thể trên trần gian này, nhưng cần tìm cho chúng một nền tảng sâu hơn. Theo ông, không phải ngẫu nhiên khi sự vật có một bản chất, tức có bản thể bền vững. Đó là nhờ có thượng đế. Nếu không có thượng đế và ý chí bền vững của Ngài để sáng tạo và duy trì thế giới này, tất cả đều tan rã hết.

René Descartes, cha đẻ của triết học cận đại, cũng dành cho thượng đế một chỗ đứng đặc biệt, nhưng có chỗ khác với Aquino. Theo ông, chỉ duy nhất thượng đế mới có bản thể vĩnh hằng theo nghĩa tuyệt đối, còn toàn bộ thực tại chia làm hai loại bản thể: bản thể có quảng tính (vật chất) và bản thể có tư duy (tinh thần). Nơi con người cũng thế: ngày nay, ta đi đến bác sĩ để khám bệnh và đi đến trường để học, chứ không đến cùng một nơi là nhờ có… Descartes!

Sống trong một gia đình, một tổ chức, một xã hội, đâu phải ai lo phận nấy mà còn có một mục tiêu chung. Khi mục tiêu chung này mất đi, gia đình, tổ chức, xã hội không còn là chính nó nữa

Descartes gặp một đối thủ có hạng: Gottfried Wilhelm Leibniz. Leibniz bảo rằng chính những “đơn tử” (monad) mới tạo nên bản chất của sự vật. Nó “không có cửa sổ”, nghĩa là không thể nhìn vào bên trong nó, nó tự tồn và không có gì bên ngoài làm thay đổi nó được. Quan trọng hơn, đơn tử có lực! Lực khổng lồ nữa là khác. Không cần phải là nhà vật lý nguyên tử, ta cũng tin vào sức mạnh của năng lượng nằm bên trong lòng sự vật. Chỉ cần nhìn một đội bóng đang vùng lên là đủ nhận ra cái gì thúc đẩy nó, đồng thời đó cũng là nguồn năng lượng của nó.

Immanuel Kant thấy các khẳng định của Descartes, Leibniz nghe thì hay nhưng không thể kiểm chứng được, nên cho rằng bản thể là cái gì chỉ hiện hữu trong đầu óc con người như một phạm trù để suy nghĩ về sự vật thôi, còn bản chất của sự vật là điều không thể nhận biết được.

G. W. F. Hegel nghĩ đến quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng: hiện tượng là gì nếu nó thiếu đi cái bản chất; bản chất là gì nếu nó không trình hiện ra?

Edmund Husserl cho rằng, đối với con người, không có cái bản chất nào ẩn giấu đằng sau sự vật cả, tất cả đều là những gì trình hiện cho ta, nên triết học của ông được gọi là hiện tượng học. Từ đó, Jean Paul Sartre, một trong những ông tổ của chủ nghĩa hiện sinh, cho rằng hiện hữu của con người có trước bản chất. Xác định trước một bản chất, là hạn chế sự tự do chọn lựa của con người! Đối với các triết gia Anh, nhất là David Hume, John Locke, chỉ có những gì tri giác được, đo đếm được mới có thực. Một tư tưởng được thời đại bấy giờ hoan nghênh, vì nó hoàn toàn tương hợp với phương pháp của khoa học tự nhiên thời cận đại.

Ở thế kỷ 20, triết học và khoa học luận tìm cách thay thế khái niệm bản thể/bản chất quá trừu tượng bằng khái niệm chức năng. Lý thuyết hệ thống cũng vậy: sự vật được xác định không phải từ bản chất của nó, mà từ chức năng của nó trong một hệ thống nhất định.

Nhưng, nhiều người vẫn chưa trọn tin vào lý thuyết ấy. Họ vẫn cứ thành tâm hướng đến một cái gì siêu việt hơn đời thường, và… cha con ông chủ quán phở vẫn cứ tiếp tục tranh luận.

Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Mục tiêu “nhỏ” để năm mới thành công to

    01/01/2015HR Vietnam/Carl MuellerĐến hẹn lại lên, những ngày cuối cùng của năm cũ luôn là khoản thời gian lý tưởng để chúng ta nghiền ngẫm về những điều đã qua và bắt đầu suy nghĩ về những mục tiêu cụ thể cho sự nghiệp trong năm mới....
  • Chọn lựa mục tiêu và động lực cho bản thân

    14/10/2014Bạn chính là động lực tốt nhất cho chính mình. Động lực của bạn phải xuất phát từ trong chính bản thân bạn. Những người khác có thể cố gắng khuyến khích bạn nhưng chính bạn lại là người duy nhất có thể đạt được những gì bạn mong muốn. Bạn phải nghe theo bản thân mình - bạn có thể!
  • Bạn đã thực sự coi trọng việc làm trước mắt chưa?

    21/08/2009Nguyễn Quang TháiKỳ thực mỗi công việc đều là một mỏ kim cương quý giá. Khi những thanh niên nhìn về tương lai trước mắt, hãy ý thức được những gì mình đang có. Ít nhất, trước khi quyết định tìm công việc khác, hãy chuyên tâm vào công việc cụ thể hiện tại, cho dù bạn nghĩ đó chỉ là công việc vụn vặt.
  • Người Việt Nam cần có tư duy sáng tạo

    19/08/2009TS. Hồ Bá ThâmTrong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước thực hiện kinh tế tri thức thì vẫn cần văn hóa thông minh nhưng chủ yếu là cần có văn hóa sáng tạo cả trong quản lý lãnh đạo, trong sản xuất kinh doanh, trong khoa học, công nghệ và trong văn hóa nghệ thuật mà trong đó cốt lõi là phát triển mạnh năng lực tư duy sáng tạo cả về lý luận và thực hành. Không có văn hóa và năng lực sáng tạo như vậy không thể có nhiều nhân tài, không thể có tiến bộ cho dân tộc, không thể tiến lên văn minh và xã hội chủ nghĩa. Coi nhẹ tư duy sáng tạo, coi nhẹ nhân tài thì tất yếu sẽ bị tụt hậu.
  • Năng lực sáng tạo: Làm sao để có

    16/06/2009Phan Đình DiệuNăng lực sáng tạo là vấn đề hưng vong của quốc gia, đất nước, nó cũng là vấn đề thành bại của mỗi tổ chức, doanh nghiệp; và cũng là vấn đề sống còn của mỗi cá nhân. Lợi ích chung và lợi ích riêng hòa hợp một cách hữu cơ trong cùng một nhiệm vụ là làm sao để nâng cao được năng lực sáng tạo chung đó?
  • Chí nghiệp chủ

    02/03/2009Nguyễn Thị Thùy DươngKhi vào nhà người chị họ chơi, tôi thấy đứa cháu 5 tuổi chạy từ nhà tắm ra, tồng ngồng đứng đó và giang 2 tay hai chân ra chờ đợi. Cu cậu cứ đứng như vậy cho đến khi mẹ vào mặc quần áo cho mới thôi. Tôi ngạc nhiên và tự hỏi, vì sao cháu bé lại làm thế. Thực ra, trước đây khi cháu tắm xong, cháu thường lao vào tủ chọn quần áo cho mình, nhưng bộ nào cháu chọn cũng không được mẹ đồng ý, thế nên dần dần cháu không chọn nữa mà cứ tồng ngồng đứng đó để mẹ lấy gì cho mặc thì mặc....
  • Mỗi người

    28/11/2008Nguyễn Khắc NhoMỗi người vừa là cá nhân nói riêng trong cộng đồng, vừa là chủ nhân của cộng đồng, vừa sáng tạo ra tình yêu và hạnh phúc cho mình và cho mọi người, vừa được cảm nhận tận hưởng tình yêu hạnh phúc của mọi người đem lại...
  • Mục tiêu

    01/01/2006Bằng việc trở thành một con người ưa hành động thì ngay bây giờ bạn đã có thể thay đổi được cuộc sống của mình. Khi ấy bạn có đủ sức mạnh để có thể thay đổi. Hãy bắt đầu ngay từ bây giờ. Bởi đây chính là cuộc sống của bạn. Hãy đưa ra những sự lựa chọn đúng đắn cho mình...
  • Những mục tiêu cuộc đời

    03/10/2005Yên KhuêTheo đuổi những mục tiêu riêng đồng thời với mục tiêu chung của cả hai vợ chồng là điều rất quan trọng trong việc duy trì cuộc hôn nhân hạnh phúc. Bài trắc nghiệm này không phải thuộc loại đúng sai hay có đáp án sẵn để chọn lựa, mà là một cách tự kiểm tra dành cho cả hai vợ chồng, mỗi người trả lời riêng, rồi bước cuối cùng (bước 6) đối chiếu kết quả với nhau để biết cả hai đang cùng hướng đến đâu...
  • Mục tiêu (Quá trình liên tục cải tiến)

    02/08/2005Tác giả sách: Eliyahu M. Goldratt - Jeff Cox"... Như một món ăn ngon, "Mục tiêu" quá tuyệt nên không thể bỏ qua được. Các công ty bắt đầu mua cả chồng sách, và các trường quản trị kinh doanh đưa cuốn sách này vào chương trình giảng dạy" - Fortune Magazine.
  • Bí quyết biến mục tiêu trở thành hiện thực

    07/07/2005Thành công thường đến khi mục tiêu trở thành một cam kết bên trong mỗi con người. Những nhà nghiên cứu khẳng định rằng không có quan trọng hơn việc viết mục tiêu của bạn ra giấy. Viết ra những mục tiêu đặc biệt và thường xuyên xem xét lại là cách giúp bạn giải phóng được năng lượng, sự sáng tạo và hướng bạn đạt tới mục tiêu đó...
  • Nếu thực lòng muốn thay đổi

    10/11/2003Trong bài CCGD - phải làm lại từ đầu đăng trên KH&ĐS số 16, ra ngày 3/3/2003 tác giả mới trình bày sự cần thiết phải thay đổi một số giải pháp giáo dục cơ bản để các giải pháp đó không chống lại mục tiêu giáo dục - đào tạo như hiện nay. Trong bài này, tác giả trình bày tiếp sự cần thiết phải thay đổi phương pháp đó không triệt tiêu mục tiêu giáo dục - đào tạo như chúng ta đang thấy.
  • Khúc đồng điệu với "chỉ cần một ý tưởng"...

    11/02/2003Tấm thảm ở phòng khách chi nhánh của Viện DeBono ở Melbourne (Australia) có 6 vạch đậm mang 6 màu khác nhau: Trắng, đỏ, xanh lá cây, vàng, xanh da trời và đen. Edward De Bono - người đi đầu trên thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy về tư duy - sáng tạo quan niệm rằng màu trắng tượng trưng cho thông tin; màu đỏ là chuyển động, cảm nhận, trực giác; xanh lá cây là sự sáng tạo; vàng là những giá trị của lợi ích; xanh da trời là những giá trị tổ chức; đen là tính thận trọng, nguy hiểm. Nguyên cách mặc định như vậy đã gợi mở chiều suy nghĩ mới ...
  • xem toàn bộ