Sự hình thành con người với tư cách chủ thể sáng tạo

09:21 SA @ Chủ Nhật - 30 Tháng Bảy, 2006

Bản chất con người là sáng tạo (M.Goocki). Bất cứ ở đâu con người cũng làm theo thước đo cái đẹp (C.Mác). Thời đại khoa học - công nghệ - tin học mà tựu trung là thời đại của văn minh trí tuệ hiện nay, thực chất là thời đại của những phát minh và sáng tạo. Sự phồn vinh của loài người ở thế kỷ XXI sẽ được quyết định bởi tính sáng tạo trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học, nghệ thuật. Sáng tạo trở thành dòng chính của triết lý sống trong thế kỷ XXI.

Vinh quang và ý nghĩa của con người là phát triển tôi đa các năng lực sáng tạo của mình để trở thành những chủ thể sáng tạo, hoà vào thời cuộc, thực hiện được mục đích cá nhân và những nhiệm vụ cao cả của xã hội. Làm được như vậy cung có nghĩa tự con người đã "đưa con người trở về đúng vị trí của chính mình”. Ở Việt Nam, sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước cũng chỉ có thể thực hiện được khi có những con người như những chủ thể sáng tạo.

Vấn đề đặt ra là, chủ thể sáng tạo mang những phẩm chất gì và trong những điều kiện như thế nào thì một cá nhân có thể trở thành chủ thể sáng tạo? Cái gì làm cho những người cùng có những phẩm chất giống nhau mà người này thành đạt, người kia không thành đạt? Đây là vấn đề vô cùng phức tạp cần có sự nghiên cứu tổ hợp của nhiều ngành khoa học. Ở đây chỉ đi sâu vào một vài khía cạnh của vấn đề đó.

Nghiên cứu về con người, kết quả khoa học cho biết, mỗi cá nhân được sinh ra cùng và một số tư chất tự nhiên nhất định phụ thuộc vào những đặc điểm giải phẫu -sinh lý của cơ thể. Những tư chất đó như những tố chất quy định khuynh hướng tự nhiên (năng khiếu) của mỗi cá nhân đối với một loại hoạt động tương ứng. Nếu không bị những hạn chế do môi trường xã hội và nhiều điều kiện khác chưa đáp ứng được, thì mục đích cuối cùng của giáo dục sẽ được thực hiện một cách tuyệt đối. Nghĩa là, mọi tư chất cá nhân sẽ được phát huy trong những điều kiện thuận lợi thông qua các loại hoạt động thích hợp. Lúc đó, vấn đề mà Platon để ra từ xa xưa: "Mỗi người phải hoàn thành sứ mệnh do số phận của mình giao phó" sẽ được thực hiện. Song trong thực tế, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội là hết sức phức tạp, sự thoả mãn nhu cầu riêng và lợi ích chung chỉ được đáp ứng ở những mức độ nhất định. Trong khi đó, mỗi chủ thể chỉ say mê với công việc khi công việc đó đáp ứng được sự lựa chọn của anh ta. Đó là lúc chủ thể bộc lộ đẩy đủ sức mạnh bản chất, đưa hết tài năng và tâm huyết, hành động vì lợi ích và mục tiêu cao nhất. Chỉ lúc đó, người ta mới bằng mọi cách chiếm lĩnh tri thức nhân loại, hoà vào hoạt động và quan hệ đa dạng, phong phú của xã hội, nâng mình lên.

Khi xây dựng thế giới quan nhân đạo, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đặc biệt quan tâm nghiên cứu bản chất tự nhiên và xã hội của các cá nhân, nghiên cứu khả năng phát triển đầy đủ sức mạnh bản chất con người và các điều kiện cho sự phát triển tự do các tư chất cá nhân trong các điều kiện xã hội cụ thể. Mác viết: "Chỉ có trong cộng đồng, cá nhân mới có được những phương tiện để phát triển toàn diện những năng khiếu của mình và do đó, chỉ có trong cộng đồng, mới có thể có tự do cá nhân".

Đúng vậy, tư chất tự nhiên chưa thể là cơ sở đủ cho việc giải quyết bản chất nhân đạo thực sự của vấn đề đưa con người trở về vị trí của mình. Toàn bộ vấn đề là ở chỗ, mỗi cá nhân bao giờ cũng được sinh ra trong một dân tộc, một quốc gia, một xã hội với một nền văn hoá và các quan hệ kinh tế, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ... nhất định, và cái chủ yếu nhất, là với một hệ thống phân công lao động xã hội. Tất cả những yếu tố đó tạo nên tình huống khách quan quy định nhu cầu về mặt xã hội đối với nghề nghiệp và chuyên môn của từng cá nhân. Nhu cầu đó không phải lúc nào cũng thoả mãn thiên hướng và mong muốn của mọi cá nhân. Chính vì vậy, hệ thống giáo dục - đào tạo cũng như "công nghệ" thực hiện các loại hoạt động nghề nghiệp và chuyên môn bao giờ cũng phải căn cứ vào các tình huống khách quan.

Trong Hệ tư tưởng Đức, Mác và Engen viết: “Raphaen cũng như bất cứ nhà nghệ thuật nào khác đều bị chi phối bởi những thành tựu kỹ thuật trong nghệ thuật đã đạt được trong thời trước ông, bởi tổ chức xã hội và bởi sự phân công lao động trong địa phương của ông và cuối cùng, bởi sự phân công lao động trong tất cả các nước mà địa phương ông có quan hệ. Một cá nhân đại loại như Raphaen có phát triển được tài năng của mình hay không, điều đó hoàn toàn tuỳ thuộc vào nhu cầu, mà nhu cầu thì lại tuỳ thuộc vào phân công lao động và tuỳ thuộc vào những điều kiện giáo dục con người do sự phân công ấy sản sinh ra”.

Rõ ràng, phát triển con người, đó chính là nhiệm vụ mang tính xã hội chứ không phải mang tính tự nhiên, bởi những tư chất tự nhiên mới chỉ là cơ sở để trên đó cá nhân được phát triển với tư cách là "tổng hoà các quan hệ xã hội" với bản tính cá nhân độc đáo. Song, như vậy phải chăng trong suốt quá trình phát triển của con người luôn luôn diễn ra mâu thuẫn khách quan không thể khắc phục được giữa thiên hướng tự nhiên của cá nhân với những điều kiện thực hiện những thiên hướng đó? Và vấn đề "đưa con người trở về vị trí của mình" là không thể thực hiện.

Kết luận bi quan đó sẽ là đúng nếu: Những tư chất tự nhiên của con người chỉ phát triển theo một hướng, và những tư chất đó không bao giờ thay đổi trong quá trình phát triển của chúng dưới ảnh hưởng của các yếu tố xã hội, tức không liên quan gì tới sự di truyền sinh học về mặt xã hội.

Nghiên cứu tâm - sinh lý dựa trên thành tựu di truyền học hiện đại cho thấy, những tư chất, xét từ khía cạnh năng lực, không phát triển đơn hướng mà là đa hướng. Trên cơ sở một tư chất có thể hình thành và phát triển nhiều năng lực khác nhau. Tất nhiên, năng lực sẽ được phát triển tốt nhất trên cơ sở thiên hướng tư chất. Ở đây muốn nhấn mạnh rằng, trên cơ sở những tư chất nhất định, có thể hình thành nhiều loại năng lực gần nhau mà cá nhân có thể thực hiện thành công trong một số loại hoạt động kề cận.

Yếu tố xã hội có ý nghĩa đặc biệt trong việc tạo điều kiện cho sự hình thành những năng lực trên cơ sở các tư chất của cá nhân. Hoạt động của cá nhân làm phát huy và phát triển năng lực. Còn các điều kiện cho sự thực hiện các hoạt động thì không chỉ là vật chất, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ... mà cả các điều kiện xã hội, văn hoá, đạo đức, thẩm mỹ... tức là các điều kiện ở tầng tinh thần. Môi trường tinh thần xã hội quan trọng hàng đầu phải kể đến gia đình, sau đó đến nhà trường và các tổ chức xã hội. Gia đình là cái nôi trực tiếp cho sự phát triển các tố chất di truyền. Nhà trường nhân lên tố chất đó thông qua tri thức nhân loại. Các tổ chức xã hội bổ sung phong phú vốn sống cho một sự trưởng thành đầy đủ. Tất cả các điều kiện xã hội - tâm lý, văn hoá, khoa học, đạo đức, thẩm mỹ... của gia đình - nhà trường - tập thể như là tổ hợp tri thức, quan hệ, lối sống... với tư cách là môi trường nuôi dưỡng, kích thích, phát huy năng khiếu của cá nhân.

Xã hội phải xây dựng một hệ thống giáo dục - đào tạo hoàn chỉnh sao cho khắc phục được tính phiến diện và tính hạn chế của những kinh nghiệm rời rạc, ngẫu nhiên đối với sự phát triển cá nhân. Mục đích hàng đầu của hệ thống đó nhằm nắm bắt chính xác và toàn diện tư chất từng cá nhân, phát triển tối đa năng khiếu và dẫn dắt họ đi đúng hướng hoạt động mà ở đó phẩm chất, năng lực cá nhân được phát huy cao nhất vì lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Chì khi nào có được sự hài hoà thực tê giữa lý tưởng cá nhân và lý tưởng xã hội, giữa quyền lợi riêng và quyền lợi chung thì hoạt động của cá nhân mới đạt tới đỉnh cao, và mâu thuẫn giữa thiên hướng cá nhân và điều kiện thực tế hạn chế nó mới có khả năng khắc phục.

Trong yêu cầu hiện nay, điều có ý nghĩa lớn là tìm ra định hướng nghề nghiệp cho người lao động mà trước hết là thanh niên. Có rất nhiều kinh nghiệm của các nước trong việc định hướng đó. Song, điều quan trọng là sự định hướng phải trở thành một thiết chế xã hội tạo ra được sự hài hoà giữa nhu cầu xã hội và thiên hướng cá nhân ngay trong nghề nghiệp và chuyên môn để cá nhân phát huy được tối đa tiềm năng của mình. Tất nhiên, định hướng nghề nghiệp cũng chưa thể là "cái gậy thần” cho mọi hoàn cảnh cuộc sông. Nó chỉ có ý nghĩa khi được kết hợp và việc nâng cao lĩnh vực tri thức và năng ]ực đánh giá chung cũng như tri thức và năng lực đánh giá các loại hoạt động, trình độ nhận thức và tự đánh giá bán thân.

Song cả trong trường hợp đó, định hướng nghề nghiệp cũng chưa bảo đảm cho một cá nhân trở thành chủ thể sáng tạo. Nhiều khi, đó chỉ mới là điểm xuất phát cho mục đích cá nhân, đặc biệt là trong điều kiện cơ chế kinh tế thị trường hiện nay. Vấn đề là ở chỗ , sáng tạo trong bất cứ loại hoạt động nào cũng cần đến những tri thức chính xác đối với từng công việc. Có nghĩa, người lao động phải đạt tới "bí quyết nghề nghiệp" - trình độ nghề nghiệp điêu luyện đến mức trở thành thói quen và bản lĩnh sáng tạo. Làm tăng những phẩm chất đó ở người lao động cũng chính là làm tăng phẩm chất sáng tạo, độ tinh tế trong mọi hoạt động, đem lại hiệu quả và chất lượng sản phẩm cao. Thực tế cho thấy, mỗi "nghệ nhân" bao giờ cũng đồng thời là người lao động hết mình với trình độ tinh thông nghề nghiệp. Tri thức, thói quen, bản lĩnh lao động cùng với ý chí, lòng quyết tâm và niềm say mê sáng tạo chính là sự biểu hiện chất nhân văn cao ở "nghệ nhân".

Chỉ trên cơ sở đó mới bắt đầu hình thành và phát triển những nghệ nhân thực thụ mà ở đó hoà quyện được một cách tự nhiên giữa lao động với tính cách là tất yếu với lao động với tư cách là "trò chơi" thao diễn sức mạnh thể chất và tinh thần của con người. Ở đây, ranh giới giữa "thủ công" và “nghệ thuật"gần như không còn nữa, các khái niệm "thợ lành nghề” và "nghệ nhân" không còn phân biệt. Thực ra, thợ lành nghề mới chỉ là những người có trình độ thao tác điêu luyện, tạo ra được những sản phẩm có chất lượng cao. Còn nghệ nhân là phải nói tới một trình độ cao hơn, gắn liền với những đặc tính sáng tạo, ở đó, thao tác đạt tới nghệ thuật, sản phẩm mang tính hoàn thiện và độc đáo, có cá tính và mang ý nghĩa xã hội. Tất nhiên, "nghệ nhân" nói ở đây không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực nghệ thuật, mà nói đến một tính chất hoạt động đặc thù có mặt trong cả khoa học, trong kỹ thuật, trong công nghệ, trong hoạt động xã hội… khi mà thời đại đòi hỏi chất lượng sông mới cao hơn thời đại đã qua với đặc tính tinh thần mà quy luật thẩm mỹ trở thành thông số của mọi hoạt động, mọi sản phẩm, mọi suy nghĩ và hành vi con người.

Đặc trưng thời đại và nhu cầu xã hội ngày nay đòi hỏi người lao động phải là chủ thể sáng tạo thực thụ. Hiện tượng "nghệ nhân" không còn là hiện tượng cá biệt, mà trở thành phổ biên trong xã hội. Thước đo thẩm mỹ được vận dung trong mọi lĩnh vực cuộc sống từ sản xuất đến sinh hoạt, từ kinh tế đến chính trị, từ văn hoá vật chất đến văn hoá tinh thần. Môi trường.kinh tế - xã hội trong cơ chế mở với tư duy mới hiện nay đang là điều kiện tốt đối với việc phát huy các khả năng theo tiêu chí trên ở con người, mở ra cho người lao động những phương án lựa chọn hướng đi phù hợp với sở trường cá nhân, đi đến thành đạt trong cuộc sống. Sự thành đạt của cá nhân có ảnh hưởng quyết định đến mọi mặt cuộc đời cá nhân đó. Ở trên đã phân tích, hoạt động sản xuất và hoạt động xã hội là nơi phản ánh sâu sắc và đầy đủ nhất trình độ phát triển của mỗi cá nhân, bộc lộ mọi sức mạnh bản chất của con người. Cho nên, trong hoạt động sáng tạo, khi nắm được "bí quyết nghề nghiệp", thực chất, chủ thể sáng tạo đã tìm ra được chính mình, nhận ra sức mạnh, tạo nên bản lĩnh thực hiện cải tạo thế giới, cải tạo bản thân. Khi đã khẳng định được mình, chủ thể có đủ niềm tin và sức mạnh vươn tới mục đích do mình đặt ra.

Sự thành đạt của một cá nhân còn tác động tích cực tới môi trường xã hội. Sự tự khẳng định được cá nhân không chỉ tạo nên tâm lý tự tin trong việc vươn tới mục tiêu phát triển và hoàn thiện bản thân, nó còn mở rộng khả năng hiện có, phát triển các quan hệ giao tiếp, văn hoá, tác động tới tinh thần phấn đấu của người khác, tạo nên môi trường xã hội lành mạnh.

Ngược lại, sự thất bại trong đường đời của một cá nhân dù là do hoàn cảnh khách quan, hay ý muốn chú quan không được thoả mãn theo khả năng và sự lựa chọn của chính mình, nó không chỉ kéo theo nhiều thiệt hại khác ở cuộc đời cá nhân. Trạng thái bi quan tác động tiêu cực và thủ tiêu ngay cả niềm tin ở chú thể, tâm lý tự ti trước người khác tăng lên. Sự chán nghề làm thui chột dần những năng khiếu, những khả năng sáng tạo vốn có trong bản thân chủ thể sáng tạo.

Có thể chỉ ra vô số những trường hợp mà những bi kịch cuộc đời xảy ra vì cá nhân đó không thoả mãn với công việc của mình. Những bi kịch đó xảy ra trước hết, khi những điều kiện khách quan không bảo đảm cho cá nhân đó thực hiện khả năng trở thành một chủ thể sáng tạo tự do, theo sự lựa chọn đường đời phù hợp với năng khiếu và sở thích riêng. Không những thế, những yếu tố khách quan đó còn trở thành những yếu tố làm nảy sinh những hiện tượng tiêu cực trong suy nghĩ và hành vi ngược lại yêu cầu xã hội, thậm chí chẳng đối và mong có những biến đổi xã hội. Điều đó là để hiểu, bởi trong con người luôn tồn tại thường trực một khát vọng được tự thực hiện một cách đầy đủ nhất sự thành đạt mà nhiều khi cái quyết định là về mặt tinh thần chứ không phải là vật chấn.

Từ góc độ xã hội, để khắc phục trạng thái nêu trên, vấn đề mưa con người trở về vị trí của chính mình trở thành vấn đề có tính tất yêu lịch sử. Bởi vì chỉ giải quyết vấn đề đó một cách thật sự thì trong xã hội, nói theo cách của Engen con người mới có thể bước “từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của sự do", ở đó, sự phát triển toàn diện và sự thể hiện bản chất con người mới trở thành mục tiêu hiện thực.

Không ngẫu nhiên, trong mọi thời đại, các nhà thông thái đều đi tìm những con đường để giải quyết vấn đề đó. M.Monlen chẳng hạn, đã viết: "Bản lĩnh tự biểu hiện một cách đầy đủ vào trong thực thề tự nhiên của mình, đó là dấu hiệu của sự hoàn thiện, và hầu như đó là bản chất thần thánh của con người. Chúng ta muốn làm một cái gì đó còn hơn thế nữa, không chỉ muốn đi vào thực thể của chính mình, mà còn muốn vượt lên trên giới hạn tự nhiên của chính mình".

Vấn đề đặt ra là " Vượt lên trên giới hạn tự nhiên của chính mình như thế nào! C.Mác, từ buổi đầu trên con đường tìm tòi sáng tạo, trong bài báo: "Suy nghĩ của thanh niên trong việc lựa chọn nghề nghiệp đã cảnh báo: "Sai lầm trong sự lựa chọn nghề nghiệp... đó là sai lầm mà sau này nó sẽ trả thù chính chúng ta, nếu sai lầm đó không được thế giới bên ngoài (xã hội - N.V.H) điều chỉnh, thì đó còn là nguyên nhân của những bất hạnh nặng nề".

Sự “vượt ra ngoài" đó thể hiện tính năng động sáng tạo và khát vọng vươn lên vô tận của con người. Tuy nhiên, muốn đi xa bao giờ người ta cũng phải " đứng vững trên đôi chân" của mình. Để đứng vững được trên đôi chân của mình, trước hết, mỗi người phải hiểu rõ việc mình làm. Càng hiểu sâu bao nhiêu, hiệu quả công việc mình làm càng ]ớn bấy nhiêu.

Và như vậy có nghĩa, ở bất cứ mức độ nào, hiệu quả lao động sáng tạo bao giờ cũng phù hợp với tinh thần chủ thể sáng tạo. Nghĩa là, trong lao động sáng tạo có sự kết hợp giữa hứng thú cá nhân với nghĩa vụ xã hội, thoả mãn đồng thời lợi ích xã hội với lợi ích cá nhân. Mức độ kết hợp hài hoà các yếu tố đó là con đường và khả năng thể hiện tự do và phát triển của chủ thể sáng tạo.

Nguồn:
Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Tư duy sáng tạo và phê phán trong giáo dục Mỹ

    30/09/2014Dương Ngọc DũngCó lẽ trong tất cả giảng trình tạo Đại học Harvard không có giảng trình nào thu hút nhiều sinh viên ghi danh học như giảng trình 101 tư duy về tư duy (101 thinking about thinking – 101 là mã số chung cho tất cả các giáo trình nhập môn tại đại học Mỹ).
  • Vai trò động lực của dân chủ đối với sự hoạt động và sáng tạo của con người

    02/06/2006GS. TS. Nguyễn Trọng ChuẩnDân chủ gắn bó chặt chẽ với quyền sống của con người, là nhu cầu không thể thiếu của từng cá nhân cũng như của cộng đồng người trong xã hội, nhất là trong xã hội văn minh, bởi vậy dân chủ có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy con người hoạt động và sáng tạo...
  • Tưởng tượng và tài năng sáng tạo

    23/03/2006Nguyễn Chu Phác"Con người không biết tưởng tượng vẫn có thể thu thập được sự kiện. Nhưng nếu không có tưởng tượng sẽ không thể có phát minh vĩ đại, loài người sẽ không phát triển cả văn minh vật chất và văn minh tinh thần"... (Ti-mi-ria-zép)
  • Nghề văn và những động lực sáng tạo

    19/02/2006Hồ Sĩ VịnhLý tưởng xã hội là cái nằm trong bầu máu nóng, là mục đích cao nhất, là lẽ sống đẹp nhất của đời người. Ở nhà văn, những yếu tố nói trên biến thành nguồn nội lực văn hóa, lý tưởng càng được thắp sáng, bầu nhiệt huyết càng sôi sục thì tác phẩm của họ càng được công chúng nồng nhiệt đón đợi...
  • Những trở ngại về tâm thức trong tư duy sáng tạo & giải quyết vấn đề

    17/01/2006Nguyễn Thúy HằngĐịnh kiến. Khi càng lớn tuổi thì càng có nhiều định kiến về mọi thứ. Những định kiến này thường làm cho chúng ta không nhìn nhận được thấu đáo những gì mà chúng ta đã biết hay tin tưởng là có thể xảy ra. Chúng ngăn cản sự thay đổi và tiến bộ. ...
  • Rèn khí phách sáng tạo

    04/01/2006PGS. TS. Phạm Duy NghĩaNgười làm quan ở nước ta, xưa thì được tuyển mộ qua đường khoa cử (giỏi thơ ca và thuộc sách thánh hiền thì được đỗ đạt, làm quan), nay về cơ bản phải kinh qua ba kênh đào tạo chính: đào tạo về chuyên môn, đào tạo về chính trị và đào tạo về quản lý nhà nước...
  • Chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo

    09/12/2005GS. Tương Lai...bằng sự trải nghiệm và bản lĩnh của mình, Hồ Chí Minh thấy được mặt trái của tấm Huân chương mà rất nhiều người khác không thấy được. Nhờ thấu hiểu như vậy nên Người biết phải hành động như thế nào để đạt được mục đích. Người phải khôn khéo chống chọi với nhiều áp lực nặng nề để thực hiện mục đích đó.
  • Sáng tạo không ngừng đòi hỏi những câu hỏi thông minh

    06/12/2005Nguyễn Thúy HằngBài viết này được phỏng theo cuốn “Smart Questions: Learn to Ask the Right Questions for Powerful Results” (Jossey-Bass, SanFrancisco, 2004) của hai giáo sư Gerald Nadler và William J.Chandom - chủ tịch và phó chủ tịch Tổng công ty “The Center for Breakthrough Thinking”. ...
  • Về Tự do với tư cách phạm trù của triết học xã hội

    19/11/2005Đinh Ngọc ThạchToàn bộ kinh nghiệm lịch sử chỉ rõ rằng, tự do là giá trị thiêng liêng và là đặc tính bản chất của con người, là cơ sở bản thể luận của đời sống...
  • Những trở ngại về tâm thức trong tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề

    09/11/2005Nhiều thói quen của người lớn tuổi có thể ngăn cản sự thay đổi và tiến bộ do sáng tạo đem lại...
  • Kinh tế tri thức cần Ý tưởng sáng tạo

    06/10/2005Hiện nay, nhiều nhà chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật nước ta đang sôi nổi luận bàn về kinh tế tri thức và hiện cũng có một xu hướng xem kinh tế tri thức là một mục tiêu vươn tới, là chiếc đũa thần đưa con thuyền kinh tế ốm yếu Việt Nam vượt lên. Trong khái niệm "vươn tới" người ta dễ dàng hình dung đến một tiến trình học tập, chiếm lĩnh kho tri thức quý báu của nhân loại tiên tiến làm vốn tri thức cho mình, cho nền kinh tế tri thức của mình. Thật đơn giản. Nhưng nếu sự việc đơn giản như vậy, trong bối cảnh cả thế giới cũng chen tay nhau rướn lên, xây dựng nền kinh tế tri thức cho quốc gia mình, thì vị trí Việt Nam có gì khác so với cuộc chạy đua khoa học, công nghệ hiện đại?
  • Tự do - Điểm khởi đầu của mọi sự phát triển

    30/09/2005Nguyễn Trần BạtKhi nói tự do là linh hồn của mọi cuộc cải cách chính là nói đến tinh thần xuyên suốt các cuộc cải cách. Cải cách kinh tế nhằm tạo ra tự do kinh tế. Tự do kinh tế đi trước để con người được nếm các thành quả sự phát triển. Chừng nào cảm nhận được vị ngọt, cảm nhận được các thành quả thu được từ tự do kinh tế, con người sẽ nhận thức được giá trị của tự do chính trị, tức là cải cách kinh tế giúp con người nhận ra lợi ích của tự do chính trị...
  • Cùng sáng tạo cuộc đời

    23/09/2005Bích DậuCùng sống: nơi gặp gỡ để nói thật, nghe thật chuyện vui buồn trong cuộc sống. Cùng làm việc: cùng thực hiện những chương trình - các lớp học huấn luyện kỹ năng sống...
  • Sáng tạo là gì?

    06/08/2005Là dám nghĩ khác và dám làm khác. Vậy thôi!
  • Biện chứng của tự do

    21/07/2005Nguyễn Trần BạtTự do không phải là thuật ngữ xa lạ, càng không phải một phát hiện bởi nó gắn liền với con người như một công cụ để tồn tại, để sống và để phát triển. Tuy nhiên, đối với con người, tự do vẫn phần nào bí ẩn; chúng ta, dường như, chưa nhận thức trọn vẹn về nó, càng chưa biết khai thác và sử dụng nó như một công nghệ phát triển...
  • Khơi nguồn cảm hứng và năng lực sáng tạo

    06/07/2005Nội dung FISH! Tales – Khơi nguồn cảm hứng và năng lực sáng tạo ghi lại những câu chuyện có thật về sự tác động tích cực của Triết lý Chợ Cá vào các công ty nổi tiếng: Hãng xe Ford, Công ty Dịch vụ Kết nối toàn cầu Sprint, Công ty Tile Tech… Thành quả ấn tượng của các doanh nghiệp này chứng minh cho một chân lý: Nếu ta biết tạo ra một môi trường làm việc đầy ắp tiếng cười, nếu ta biết sống trọn vẹn cho ta và cho mọi người xung quanh thì chắc chắn ta sẽ thành công hơn, khách hàng sẽ đến với ta nhiều hơn, nhân viên sẽ làm việc tận lực và trung thành hơn.
  • Học để thi hay học để làm, học để sáng tạo?

    11/01/2004Nhìn vào hiện trạng của các “sản phẩm” của nền giáo dục CĐ-ĐH hiện nay có thể thấy rằng, hình như xã hội “không mê” các sản phẩm này. Sở dĩ có thể nói như thế là bởi vì qua một cuộc thống kê nho nhỏ về trình độ của những người tìm việc làm ở một tờ báo TPHCM trong tháng 3-2003 thấy được những con số quá giật mình về trình độ học vấn của những ứng viên tìm việc...
  • Vì sao học sinh Việt Nam không sáng tạo?

    25/05/2003Nguyễn Hiếu NhânHọc sinh Việt Nam nói chung là chăm học và học giỏi. Trong các cuộc thi quốc tế toán, tin, vật lý, hoá học..., Việt Nam luôn được coi là cường quốc. Người Việt trẻ ở nước ngoài cũng thường chiếm tỷ lệ cao trong số các học sinh – sinh viên đỗ đầu các kỳ thi. Tuy nhiên, sau những thành tích đó, chúng ta thấy hầu như rất ít học sinh có sáng tạo đáng kể, tương xứng với thành tích vinh quang mà họ đạt được.
  • Năng lực tư duy sáng tạo trong thời đại ngày nay

    15/02/2003Nguyễn Thanh Huyền, Pháp B – K35F...trong thời đại ngày nay, khi nhận thức của con người đã đạt đến một trình độ cao hơn, thì năng lực tư duy không còn giữ nguyên nghĩa mà đã trở thành năng lực tư duy sáng tạo. Bởi lẽ, người ta không chỉ tư duy để có những khái niệm về thế giới, mà còn sáng tạo nhằm thay đổi thế giới làm cho thế giới ngày càng tốt đẹp hơn. Với sinh viên nói riêng, năng lực tư duy sáng tạo đã trở thành một trong những điều kiện cần thiết để đem lại cho họ một công việc hứa hẹn khi ra trường hay xa hơn nữa là một chỗ đứng vững chắc trong xã hội và trên thế giới.
  • Biết tự học và biết sáng tạo

    12/02/2003Quang DươngQua những sáng tạo được thể hiện từ thời Thomas Edison đến thời Bill Gates, giới khoa học kỹ thuật ngày càng nhận thấy giữa trí sáng tạo và việc tự học có một mối liên hệ nhân quả. Tạp chí Science et Vie (Pháp) đã viết :"Ai tự học mạnh nhất, người đó tích lũy được một tiềm năng sáng tạo dồi dào nhất. Ngược lại, ai có nhu cầu sáng tạo nhiều hơn, người ấy càng thôi thúc ý chí tự học cao hơn".
  • Khoa học sáng tạo và Phương pháp luận sáng tạo

    12/02/2003Trên con đường phát triển và hoàn thiện, KHOA HỌC SÁNG TẠO (Heuristics, Creatology) tách ra thành một khoa học riêng, trong mối tương tác hữu cơ với các khoa học khác (có đối tượng nghiên cứu, hệ thống các khái niệm kiến thức riêng, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu riêng...)
  • Phương Pháp Luận sáng tạo: 21 & một

    11/02/2003...sau 21 năm các thầy tự trang trải, chèo chống để truyền bá nó ở nước ta? Phải chăng là làm sao phát triển tiếp TSK - Trung tâm đầu tiên và đang là duy nhất của Đông Nam Á chuyên giảng dạy và nghiên cứu PPLST...
  • Altshuller - cha đẻ của phương pháp luận sáng tạo

    11/02/2003Genrich Saulovich Altshuller (1926-1998) là người khai sinh ra phương pháp luận sáng tạo TRIZ (giúp canh tân, sáng chế sản phẩm mới trong khoảng thời gian ngắn nhất), là một trong những nhà bác học kiệt xuất nhất của thế kỷ 20.
  • Phương pháp giúp con người sáng tạo

    11/02/2003Kỹ sư Dương Xuân Bảo, người được mệnh danh là nhà truyền bá tư duy Altshuller vào Việt Nam, khẳng định rằng phương pháp luận sáng tạo (TRIZ) sẽ giúp mọi người tiếp cận vấn đề trực tiếp và khoa học hơn, nâng cao sự nhạy bén và khả năng sáng tạo.
  • Trường đại học sáng tạo sáng chế TRIZ

    10/02/2003Trường đại học sáng tạo sáng chế được thành lập theo sáng kiến của Thầy Altshuller và Thầy cũng là người cấu trúc chương trình, nội dung giảng dạy. Trường có mục đích đào tạo các nhà sáng chế chuyên nghiệp, các nhà nghiên cứu, giảng dạy phương pháp luận sáng tạo (PPLST) và các nhà tổ chức hoạt động sáng tạo sáng chế.
  • Tâm lý "thích sáng tạo" là nội lực rất quan trọng

    10/02/2003Ta thường nói "nâng cao dân trí" nhưng ít khi đi vào nội dung cụ thể, vô hình chung đồng nhất với nâng cao cấp "phổ cập giáo dục", coi phổ cập đến cấp học nào thì cấp học đó là mặt bằng dân trí. Nếu bảo đảm được chất lượng giáo dục theo hướng phục vụ tốt cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa thì nghĩ như trên là được. Nhưng trong thực tế thì việc học trong nhà trường chúng ta hiện nay phổ biến vẫn là thầy nhồi nhét kiến thức, học trò tiếp thu thụ động, nhiều yêu cầu khác cần thiết để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa xem ra có vẻ xa vời.
  • Mở rộng năng lực sáng tạo của những người thầy

    10/02/2003hãy mở rộng không gian sáng tạo của các nhà giáo Việt Nam, cho các thầy giáo Việt Nam để họ có điều kiện phát huy nội lực của mình, trở thành các nhà trí thức ưu tú, xuất sắc của dân tộc, những bậc thầy không những của thế hệ trẻ mà còn của đất nước, xứng đáng là những sứ giả về tư tưởng, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam và của trí tuệ thời đại, trong thế kỷ 21.
  • Phương pháp luận sáng tạo hay trò chơi nguy hiểm?

    10/02/2003Tuấn Thành5 kg là số lượng tài liệu của một môn học được gửi đến các cấp lãnh đạo có liên quan nhằm vận động đưa môn học này vào giảng dạy trong chương trình đại học. Đó là môn học gì mà tài liệu lại đồ sộ đến như vậy?
  • Làm gì để có một thế hệ khoa học trẻ năng động, sáng tạo?

    08/02/2003Mai Lan* Đại học phải kết hợp giảng dạy với nghiên cứu khoa học * Từ bỏ lối dạy và học từ chương khoa cử * Tiếp tục mở rộng cửa ĐH * Nâng cao chất lượng ĐH trọng điểm * Xem xét lại việc đào tạo và sử dụng nhân tài * Cải tổ lại công tác tổ chức và quản lý ĐH.
  • xem toàn bộ

Nội dung khác