Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360

Giới thiệuGiáo dụcSuy ngẫm & Triết lýKinh doanhKỹ năng - Nghề nghiệpCNTT - Viễn thôngThư giãn & Giải trí 
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê
Số lượt truy cập: 10.550.881
Số người trực tuyến: 274
Trang chủ  >  Suy ngẫm  >  Về thực tiễn và hành động

Kinh tế Việt Nam bước vào thời kỳ mới

GS Kinh tế David Dapice
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp
   
08:09' AM - Thứ bảy, 05/11/2005

Nghĩ tới Việt Nam thời kỳ hậu WTO với hàng loạt kịch bản và gợi ý, Giáo sư Kinh tế David Dapice* trong buổi tọa đàm tại Trường Quản lý nhà nước Kennedy (Boston, Hoa kỳ) tháng 12/2004 với Đoàn của Quốc hội Việt Nam do Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại Tôn Nữ Thị Ninh dẫn đầu đã chốt lại rằng:"Việt Nam cần thúc đẩy mức tăng trưởng cao hơn nữa và tiếp tục đổi mới thể chế” ? Ông vui lòng chia sẻ với bạn đọc Việt Nam bài viết sau đây với tình cảm của một người quan tâm tới Việt Nam. Tạp chí NCLP xin trân trọng giới thiệu bản dịch1 để bạn đọc tham khảo.

Bản gốc: The situation: Vietnam decides it's future

Dường như Việt Nam đang trong một giai đoạn với những tin tốt lành không ngờ. Đã vài năm nay GDP hàng năm tăng 7%2. Xuất khẩu tăng 70% hàng năm từ năm 2000. FDI cũng tăng và sẽ đạt khoảng 4 tỷ USD năm 2005, hơn 20% so với năm 20043. Điều đó có nghĩa là tỷ lệ FDI trên đầu người ở Việt Nam ngang với Trung Quốc. Tỷ lệ người nghèo giảm xuống dưới 30% so với 58% năm 19934. Thậm chí việc dân số tăng trở lại 1,5%/năm cũng cho thấy người dân lạc quan hơn vào cuộc sống. Những chỉ số giáo dục như tỷ lệ nhập học đại học được cải thiện, chỉ số y tế như tỷ lệ tử vong giảm. Mặc dù mức lạm phát tăng lên đến gần 10% năm 2004, sự ổn định về kinh tế vĩ mô vẫn được kiểm soát với mức thâm hụt chấp nhận được và tỷ giá hối đoái của đồng Việt so với đồng đô la ở mức ổn định.

Vậy thì còn gì đáng lo ngại nữa? Dường như đất nước này đang trên con đường phát triển đúng đắn đấy chứ. Trên nhiều phương diện thì đúng như thế, nhưng trên một vài phương diện thì không. Bài viết này muốn đề cập đến một số vấn đề có thể làm các nhà lãnh đạo Việt Nam quan tâm.

Dòng chảy vẫn hay sự hiệu quả?

Mức tăng trưởng 7% là rất tốt, nhưng nó cần được soi xét trong điều kiện dòng vốn bên ngoài vào quá cao. Năm 2004, xuất khẩu dầu thô mang lại gần 5 tỷ USD, lượng tiền gửi về qua ngân hàng khoảng 3- 4 tỷ, FDI trên 3-3,5 tỷ, ODA đạt 2 tỷ. Nếu tính GDP vào khoảng 40 tỷ, thì dòng vốn từ ngoài vào chiếm khoảng trên 30%, gần bằng mức đầu tư trong nước; điều đó cho thấy tiền lưu thông ở ngân hàng từ nguồn ngoài dầu thô rất thấp. Khó mà biết được những xi lanh này còn chạy được bao lâu, nhưng thông thường một vài trong số đó sẽ bị hỏng hóc hoặc trục trặc sau ít thời gian nữa. Với thực tế số lượng tiền lưu thông thấp và việc thiếu hệ thống tài chính, nơi có thể hướng các nguồn vốn một cách hiệu quả vào các công ty và dự án đầu tư tốt, thì đây sẽ là một trở ngại đáng kể.

Dấu hiệu rõ ràng nhất về sự thiếu hiệu quả ở tầm vĩ mô là tỷ lệ giữa sản phẩm vốn đầu tư Điều này phân biệt GDP với GDP thực tế. Với mức đầu tư chiếm khoảng 32% GDP từ năm 2000 và mức tăng trưởng 6,7% hàng năm, thì để có một đơn vị tăng trưởng, Việt Nam cần 5 đơn vị vốn trong khi ở Đài Loan hoặc Hàn Quốc vào giai đoạn tăng trưởng nhanh, tỷ lệ đó là 3 hoặc nhỏ hơn. Ví dụ, Đài Loan từ 1963 -1973 tăng trưởng hàng năm 11%, còn mức đầu tư trên GDP là 23%, có nghĩa là chỉ cần 2 đơn vị vốn để đạt một đơn vị tăng trưởng. Vậy, tại sao Việt Nam lại không thể tăng trưởng nhanh hơn?

Câu trả lời nằm ở cách đầu tư. Đầu tư của Nhà nước chiếm khoảng 50%, tăng dần từ giữa những năm 1990. Nhiều dự án đầu tư công cộng không được cân nhắc kỹ càng, đội giá lên rất nhiều vì tham nhũng. Có nhiều con số đánh giá mức độ mất mát của cát dự án này, thường là khoảng 20% và nhiều hơn. Nhiều nguồn vốn vay vẫn chảy về các doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém. Thị trường chứng khoán vẫn là một cơ chế bị kiểm soát chặt chẽ có lợi cho các DNNN. Phần lớn người dân Việt Nam đổ tiền vào nhà đất với giá cả ở các thành phố lớn gần bằng hoặc bằng giá nhà đất ở Nhật Bản. Rất nhiều doanh nghiệp mới đã ra đời kể từ khi Luật Doanh nghiệp 2000 có hiệu lực, nhưng các doanh nghiệp này có tỷ lệ đầu tư trên đầu người rất thấp và ít khi sử dụng tài khoản ngân hàng.

Có nhiều người cố gắng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và lao động ở Việt Nam. Do chỉ có những con số thiếu tin cậy về giá trị thị trường của tổng vốn đã được đầu tư, nên tạm lấy một con số chủ quan nhưng có vẻ hợp lý đánh giá tổng trữ lượng vốn (capital stock) tăng khoảng 10 -11% một năm, lao động 2% một năm. Trong trường hợp này, tăng trưởng đều nhờ tăng đầu vào, chứ không phải nhờ hiệu quả.


* Giáo sư kinh tế, Chương trình Việt Nam, Trường Kennedy về quản lý Nhà nước, Giáo sư Đại học Tufts, Hoa kỳ.

1 Người dịch: Nguyễn Đức Lam, Hiệu định Nguyễn Chí Dũng, nguyên bản xin liên hệ với tác giả. Những chữ trong ngoặc [ ] là biên dịch, hiệu đính.

2 Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đánh giá mức tăng trưởng này trong các năm 2001 – 2004 là 6,7%.

3 Một vài số tài liệu của tác giả đưa ra khác với con số chính thức ở Việt Nam (BBT).

4 Thống kê về xóa đói giảm nghèo gia đoạn 1998 – 2000 và 2002 – 2003. Bộ Lao động TBXH và GTZ, Hà Nội, 2004 tr 42- 43, Định nghĩa nghèo theo chuẩn Việt Nam tính theo định lượng 2100 calo một ngày và một số khoản chi nhu yếu phẩm yếu khác. Xem thêm Ngân hàng thế giới. Báo cáo phát triển của Việt Nam năm 2004 với đầu đề “Nghèo đói”. Tỷ lệ nghèo xuống dưới 10% nếu chỉ xét về thực phẩm, lương thực.

Trang:  1/2  1   2   »
Số lượt đọc:  21727  -  Cập nhật lần cuối:  07/11/2005 02:20:20 PM
Bài mới:  
Kinh tế học siêu vĩ mô
28/08/2008 08:38' AM
Tầm nhìn văn hóa
13/08/2008 08:33' AM
Bài khác:
1 + 1 = 2 x n
01/01/1900
Trang chủGiới thiệuLiên hệ