|
Văn hóa Việt Nam không khuyến khích thái độ cực đoan, mà luôn hướng đến sự dung hòa, giao thoa và cộng sinh giữa các chiều kích, các thế lực và các giá trị. Vì thế, nhà văn Việt Nam ít có những cảm xúc và suy nghĩ cực đoan làm động lực cho một trí tưởng tượng sáng tạo mãnh liệt, đi đến tận cùng. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc cá tính sáng tạo của nhà văn thường mờ nhạt.
LTS: Mỗi năm, khi “mùa Nobel văn chương”, hay đúng hơn, “mùa giải văn chương thế giới” một lần nữa đến gần, nhiều người trong chúng ta, trước hết là các nhà văn, lại không khỏi đặt ra câu hỏi: Bao giờ Việt Nam có giải Nobel văn chương?
Xét về mọi lẽ, đó là một băn khoăn hợp lý và chính đáng. Nước ta, với lịch sử và văn hóa lâu đời, một số phận đầy gian truân, và một khát vọng lớn, lẽ ra đã từ lâu phải có một vị trí xứng đáng hơn, được công nhận hơn trên văn đàn thế giới. Vậy, tại sao giải thưởng Nobel Văn chương – hay bất cứ giải thưởng quan trọng nào về văn chương trên thế giới – lại luôn có vẻ xa vời đối với nhà văn Việt Nam đến thế?
Dĩ nhiên có nhiều lý do khách quan, liên quan đến cả “người ngoài” lẫn chúng ta: văn học chúng ta chưa được dịch nhiều, chúng ta chưa có một công nghệ sách chuyên nghiệp và hùng hậu như ở mấy xứ giàu, các nước phương Tây vẫn tiếp tục giữ thái độ trịch thượng kiểu hậu thuộc địa đối với văn chương thuộc “thế giới thứ ba”... Song, còn những lý do chủ quan, về phía chúng ta?
Phải chăng chúng ta nên đặt lại vấn đề: không phải bao giờ Việt Nam có giải Nobel văn chương, mà là: Làm thế nào văn chương Việt Nam có giải Nobel? (Ở đây xin nói rõ ngay, “giải Nobel” chỉ là một cách nói chung, hàm ý sự thừa nhận của thế giới đối với tầm vóc và ảnh hưởng của văn học Việt Nam. Chúng ta không ngây thơ đến mức cho rằng mục đích của nhà văn Việt Nam là phải nhắm đến bằng được giải Nobel văn chương hay bất kỳ giải thưởng nào.)
Nhiều câu hỏi khác tự chúng hiện ra trước mắt chúng ta, bất cứ khi nào chúng ta đối diện với vấn đề này. Phải chăng văn chương Việt Nam đến nay chưa có được vị trí đáng kể trên văn đàn thế giới là do (một số) nhược điểm căn bản nào đó trong tố chất người Việt? Nếu có, đó là gì? Có những khó khăn hay rào cản chủ yếu nào để nhà văn Việt Nam chưa thể mơ tới giải Nobel văn chương trong tương lai gần? Nhà văn Việt Nam đã chuẩn bị được gì, hiện đang có những gì và còn thiếu những gì, để có thể dám mơ tới giải Nobel hay giải thưởng văn chương nước ngoài nào khác, một cách đường hoàng và thực tế?
Chúng tôi đã mời một số nhà văn, nhà thơ có tên tuổi phát biểu những suy nghĩ của họ xung quanh vấn đề thú vị này. Mỗi người, bằng những kiến giải của riêng mình, cố tìm lời đáp cho những câu hỏi đó.
Trí tưởng tượng mang đôi cánh ướt
Hơn nửa thế kỷ qua, nền văn học của chúng ta đã cho ra đời không ít những tác phẩm có giá trị văn hóa và lịch sử, nhưng không có tác phẩm nào có thể coi là lớn ngang tầm các tác phẩm trong quá khứ như Truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ của Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Hàn Mặc Tử, tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, truyện Chí Phèo của Nam Cao…
Vì sao như vậy?
Trước thời đổi mới và hội nhập, người ta cũng đã từng tìm kiếm nguyên nhân tình trạng phú quý giật lùi này ở phương pháp sáng tác và cơ chế quản lý, đổ lỗi cho tình trạng sáng tác thiếu tự do của các nhà văn thời nay. Nhưng những câu trả lời ấy tỏ ra bất cập khi đất nước bước sang thời đổi mới và hội nhập đã hai thập kỷ rồi, bao nhiêu nguyên tắc định hướng và quản lý đã nơi rộng, đổi thay, thậm chí nhiều khi còn thả nổi, mà thực trạng sáng tác văn chương của người Việt ở cả trong và ngoài nước vẫn chưa khởi sắc. Các nhà văn không những không cho ra đời những tác phẩm lớn ngang tầm nhân loại, mà còn sản sinh ra hàng loạt những tác phẩm lai căng, chắp vá, mượn hồn hay cố nấn ná câu giờ trên sân chơi chiến tranh lạnh khi cuộc chơi chính thức đã tàn cuộc từ lâu. Phải chăng sự thiếu vắng tác phẩm đỉnh cao trong nền văn học Việt Nam hiện đại là do chính những nhược điểm của văn hóa dân tộc? Nghĩa là, phải chăng cần xem xét vấn đề từ góc độ nhân học để tìm ra những hạn chế sáng tạo trong vũ trụ nhân văn của người Việt Nam?
Những bí mật của “Tam giác quỷ”
Trong tác phẩm Văn học là gì? J.Sartre đã khẳng định: “Nhà văn đã chọn lấy nhiệm vụ bóc trần thế giới và đặc biệt là con người cho những người khác để họ nhận lấy hoàn toàn trách nhiệm của mình trước những vật đã được bóc trần”. Nói cách khác, nhà văn có nhiệm vụ đưa người đọc xuyên qua mọi lớp vỏ ảo tưởng, ngộ nhận, thiên kiến và hời hợt để đi vào mọi ngóc ngách đáy thẳm của con người và thế giới, nhằm thức tỉnh trách nhiệm của họ trước cái thế giới trần trụi mà mình đã tận thấy, cái thế giới mà bấy nay họ tưởng không tồn tại hoặc tưởng mình vô can. Hai chữ bóc trần ở đây vừa mang ý nghĩa phát hiện, khám phá, phơi bày, vừa gây ấn tượng về sự quyết liệt, đi đến tận cùng. Nếu đem tiêu chuẩn văn chương của Sartre thể hiện trong định nghĩa trên so vào những tác phẩm văn học lớn của Việt Nam, ta sẽ thấy có sự trùng khớp.
Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du không chỉ bóc trần xã hội phong kiến như nhiều người đã nói, mà quan trọng hơn, nhà thơ đã bóc trần những thanh y của cô gái lầu xanh để người đọc thấy “một tòa thiên nhiên” trinh trắng và oan khuất. “Oan kia theo mãi với tình” . Nguyễn Du đã bóc trần những định kiến và ngộ nhận để chia sẻ với nỗi oan của Thúy Kiều - nỗi oan của kẻ bị hiểu sai ý nghĩa của những việc đã làm, những đoạn đời đã sống. Truyện Kiều là tiếng kêu xé ruột về những tình tự văn hóa và những giá trị nhân văn dị biệt, rất khó sẻ chia, những tâm sự và những giá trị “Một mình mình biết, một mình mình hay”. Biện minh cho trinh tiết của một cô gái điếm như Kiều bằng một bút lực thiên tài, Nguyễn Du đã chạm đến mặc cảm đạo đức của người Việt trong vô thức một cộng đồng luôn phải cộng sinh với những thế lực thù địch khác nhau để tồn tại và phát triển. Nói cách khác, Nguyễn Du đã chạm đến mặc cảm điếm để gián tiếp biện minh cho người Việt một cách vừa ngạo nghễ, vừa sâu sắc. Cốt lõi văn hóa của sự ngạo nghễ thi ca này là niềm tin văn hóa sâu thẳm, là nội lực văn hóa mãnh liệt đã khiến nhà thơ minh oan biện hộ cho Kiều bằng những lời gan ruột. Và tầm nhìn của một thi sĩ nhân văn đã cho phép Nguyễn Du bao quát một cách tự nhiên cái nghich lý gái điếm còn trinh để đảo thai hoán cốt câu chuyện tầm thường của Thanh Tâm Tài Nhân thành kiệt tác. Bằng thiên tài của mình Nguyễn Du đã nâng chân lý đời sống lên tầm cao của chân lý nghệ thuật.
Số đỏ của Vũ Trọng Phụng cũng bóc trần cho độc giả thấy một thực tế cuộc sống rất oái oăm dị biệt và đầy nghịch lý của đời sống dân tộc đầu thế kỷ, với một nhân vật Xuân tóc đỏ vừa độc đáo có một không hai, vừa rất Việt Nam. Cái logic đưa Xuân tóc đỏ từ một kẻ lưu manh thất học, đại bịp trở thành “vĩ nhân”, thành “nhà cải cách xã hội”, thậm chí thành “anh hùng cứu quốc” đã được Vũ Trọng Phụng đẩy đến cùng làm hiện hình trước độc giả một xã hội vô thường. Tính chất vô thường của logic đời sống Việt thời đua đòi Âu hóa đã thăng hoa từ chuỗi hình tượng sinh động - sản phẩm của một trí tưởng tượng sáng tạo quyết liệt, đi đến tận cùng, phê phán cười giễu không khoan nhượng - đã làm nên cái lớn của tiểu thuyết Số đỏ. Nếu không có một trí tưởng tượng sáng tạo tự do, thoát khỏi những logic thường tình, một chiều hay thực dụng, Vũ Trọng Phụng không thể kết nối được các đối cực (kẻ lưu manh thành anh hùng dân tộc, kẻ dốt nát thành nhà cải cách xã hội, kẻ dâm đãng thành người tiết hạnh khả phong). Hình tượng Xuân tóc đỏ là kết tinh của logic đời sống xã hội,nhưng đã được Vũ Trọng Phụng đưa vào thế giới của logic nghệ thuật chân thực, hài hước và phi lý.
Viết truyện Chí Phèo, Nam Cao không chỉ bóc trần cái xã hội thực dân nửa phong kiến thời Pháp thuộc đã lưu manh hóa, bần cùng hóa, thú vật hóa con người, mà còn bóc trần sự nhu nhược hèn yếu của quần chúng làng Vũ Đại, phơi bày sự tan rã của văn hóa làng truyền thống. Nam Cao cũng bóc tách những lớp vỏ thú tính của con người lưu manh Chí Phèo cho độc giả chứng kiến chút lương tri, nhân tính, tình yêu và khát vọng làm người lương thiện trong sâu thẳm tâm hồn hắn. Chí Phèo của Nam Cao là chàng Rhett Butler kiểu Việt Nam. Cả Chí Phèo và Rhett Butler đều là những gã lưu manh khẳng định mình bằng cách thách thức bảng giá trị của cộng đồng. Chỉ có điều, Rhett Butler trong Cuốn theo chiều gió chủ động tách khỏi cộng đồng để khẳng định mình, còn Chí Phèo của Nam Cao bị đẩy đến con đường nổi lọan và đập phá, Rhett Butler là kẻ đưa cái đểu với tư cách một phạm trù mỹ học vào cuộc sống nhân loại, là chàng thương gia xuất khẩu vẻ đẹp đểu cáng của đàn ông, còn Chí Phèo mãi mãi là hình ảnh gã đàn ông xấu xí của làng Vũ Đại. Rhett Butler thì có nàng Scarlet xinh đẹp, sắc sảo và bản lĩnh, còn Chí Phèo chỉ có Thị Nở xấu nhất trần gian. Rhett Butler nghe Scarlet chửi mình mà vẫn thản nhiên, làm Scarlet cảm thấy mình bất lực, còn Chí Phèo chửi cả làng Vũ Đại mà chẳng gặp ai phản ứng gì, Chí cũng thấy phí rượu. Hai số phận, hai cảnh ngộ có vẻ hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng đều là những nhân vật lớn của hai nền văn học vì các nhà văn khai sinh ra họ đều là những người có cảm hứng sáng tạo mãnh liệt dám đi đến tận cùng các chiều kích tâm hồn con người và thế giới.
Có thể thấy cái chung của ba tác phẩm lớn trong văn học Việt Nam vừa phân tích là sự thể hiện tâm thức văn hóa Việt, logic đời sống Việt và các dạng tồn tại đặc thù của nhân cách Việt. Thúy Kiều là con lai của văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa, Xuân tóc đỏ là con lai của văn hóa Việt và văn hóa Pháp, chỉ có Chí Phèo là đứa con thuần Việt. Nhưng ba nhân vật ấy đều được sáng tạo bằng một niềm tin văn hóa lớn, một trí tưởng tượng quyết liệt, và một cái nhìn có tầm triết học hướng đến chiều sâu của những nghịch lý và sự thăng hoa của logic nghệ thuật. Thúy Kìều trình diễn trò ảo thuật cô gái điếm còn trinh, hấp dẫn và thuyết phục không kém gì trò người bị cưa đôi vẫn còn nguyên vẹn của David Copperfield, Chí Phèo trình diễn trò rạch mặt kinh dị và đái vào đền thiêng trong lúc lên đồng nổi loạn theo vô thức tập thể của làng Vũ Đại, còn Xuân Tóc Đỏ trình diễn trò xiếc chồng ghế cao nhất ngưởng, láu cá nương theo những nghịch lý của cuộc đời để lên đỉnh vinh quang. Thúy Kiều, Chí Phèo và Xuân Tóc đỏ làm nên cái Tam giác quỷ chứa ẩn những bí mật của sức sống Việt và tâm hồn Việt trong những hoàn cảnh vô cùng éo le khắc nghiệt, cũng là cái Tam giác quỷ chứa ẩn những bí mật của những tác phẩm văn học lớn.
Những vòng Kim-cô văn hóa
Nhìn lại những tác phẩm sáng tác trong nửa thế kỷ qua, có thể thấy có những tác phẩm mang giá trị lịch sử lớn, nhưng hầu như chưa có tác phẩm nào có giá trị văn học lớn ngang tầm các tác phẩm trong Tam-giác-quỷ-văn-chương đã kể trên. Nếu đưa bất cứ tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại nào tới gần Tam giác quỷ này, chắc chắn nó sẽ bị mất hút một cách bí ẩn. Nguyên nhân sâu xa là các nhà văn của ta thiếu một niềm tin văn hóa lớn, thiếu một trí tưởng tượng sáng tạo quyết liệt dám đi đến tận cùng để đẩy hình tượng văn chương thoát khỏi đường băng của logic hiện thực, bay lên bầu trời của logic nghệ thuật đầy nghịch lý - những phẩm chất tiềm tàng trong các tác phẩm lớn của Nguyễn Du, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao…
Chúng ta sẽ hàm hồ và bất công nếu vội kết luận rằng con người Việt Nam hiện đại có vẻ kém cỏi hơn tiền nhân trong sang tạo văn chương. Những phẩm chất vừa thấy khi nhìn vào tam giác quỷ không hẳn đã là những thế mạnh sẵn có trong gia tài văn hóa Việt, mà có thể chỉ là những quà tặng đột xuất từ Đấng sáng tạo cho một số tài năng. Nhìn vào gia tài văn hóa Việt, ta có thể thấy có những mặt sở đoản hạn chế sáng tạo văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung.
1-Thiếu một niềm tin tôn giáo lớn: Người Việt nói chung không có niềm tin tôn giáo mãnh liệt. Mặc dù có nhiều sinh hoạt tín ngưỡng mang màu sắc vật linh, nhưng người Việt không có một đời sống tâm linh mạnh mẽ và phong phú như nhiều dân tộc khác. Nếu người Việt có thờ thần, thờ Phật thì cũng giống như nuôi một người thợ đặc biệt, người thợ có phép lạ để mong anh ta làm ra của cải và hạnh phúc cho mình thôi, không phải là vong thân trong thế giới tâm linh một cách mê muội, chân thành. Tỉnh táo và thiết thực, người Việt luôn luôn đứng vững trong cõi thế, lôi cả thần thánh về phục vụ cho cõi thế. Nếu bị hạn hán, người Việt có thể đem tượng thần ra phơi nắng cho thần linh cùng trải nỗi đau khổ của con người để “biết điều” mà trổ phép làm mưa. Cái quyền uy trần thế đó, cái tâm thế thực dụng đó đã khiến người Việt có cái nhìn hoài nghi với những đại diện của thế giới tâm linh - trong kho tàng chuyện dân gian Việt nam có rất nhiều chuyện cười giễu các nhà sư, các thầy cúng. Ngay cả khi tin tưởng vào các điềm báo, các giấc mộng, các bậc vua chúa xưa cũng chỉ coi thần linh là những cố vấn đặc biệt mach bảo và trợ lực cho họ thực thi những ý chí trần thế, những dự định trần gian.
2-Thiếu một trí tưởng tượng tự do: Trong lịch sử nhân loại, tôn giáo luôn khai mở trí tưởng tượng cho con người. Chính thái độ tôn giáo thực dụng của người Việt đã hạn chế trí tưởng tượng văn học vào khuôn khổ trí tưởng tượng thực dụng. Nếu không có trí tưởng tượng tự do mang tầm vũ trụ của ngừời mơ mộng thì nhà văn không thể sáng tạo ra một tác phẩm lay động toàn thế giới như Hoàng tử bé của Saint Exupery. Không phải người Việt Nam không có trí tưởng tượng thần thánh. Những sự tích như Từ Thức gặp tiên đã thể hiện một trí tưởng tượng mang tầm triết học, tầm vũ trụ và một quan niệm về thời gian tâm linh. Chuyện cổ tích Tấm Cám với sự phục sinh của cô Tấm thảo hiền qua hình hài con chim Vàng Anh là sản phâm của trí tưởng tượng mang tinh thân luân hồi của Phật giáo. Nhưng trí tưởng tượng kiểu này dường như không được phát huy trong văn học thành văn, nhất là văn học hiện đại. Hơn thế nữa, người Việt có truyền thống thiết thực, thực dụng văn hóa, nên văn học luôn luôn là công cụ tải đạo, công cụ chiến đấu cho những giá trị nhân sinh, cho quyền lợi chung của cả cộng đồng. Vì thế, trí tưởng tượng của nhà văn luôn có xu thế hướng về đời sống, thiếu tự do sáng tác ngay từ trong tập tính văn hóa ăn sâu vào máu thịt nhà văn. Nói một cách nôm na, khi nhìn một quả trứng chim, nhà văn ta thường liên tưởng tới món trứng rán cứu đói cho đồng bào nhiều hơn là tưởng tượng đến những cánh chim bay bổng hót vang trong những chân trời mới. Trí tưởng tượng của nhà văn nhiều khi giống như con chim có đôi cánh ướt, không thể bay lên.
3-Thiếu một thái độ cực đoan văn hóa: Văn hóa Việt Nam không khuyến khích thái độ cực đoan, mà luôn hướng đến sự dung hòa, giao thoa và cộng sinh giữa các chiều kích, các thế lực và các giá trị. Vì thế, nhà văn Việt Nam ít có những cảm xúc và suy nghĩ cực đoan làm động lực cho một trí tưởng tượng sáng tạo mãnh liệt, đi đến tận cùng. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc cá tính sáng tạo của nhà văn thường mờ nhạt. Do nhu cầu tập hợp quần chúng để giải quyết những nhiệm vụ chung vì sự sống còn của cả cộng đồng, nên văn hóa Việt Nam đề cao sự dễ hiểu, nôm na đại chúng, dị ứng với sự phức tạp, hàn lâm. Thiếu những xung lực cực đoan mãnh liệt để đẩy hình tượng văn học đi đến cùng, nhà văn không thể chạm tới những nghịch lý thú vị của đời sống và của tư duy. Hình tượng cứ luẩn quẩn mãi trong logic đời sống hời hợt, giống như chiếc máy bay cứ chạy mãi trên đường băng, không thể thăng hoa bay lên bầu trời của logic nghệ thuật.
Muốn có tác phẩm lớn, các nhà văn Việt Nam cần ý thức được những ràng buộc văn hóa đó để tìm cách bứt phá bay lên như những Nguyễn Du, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng... đã mang trái tim đầy ứ những nỗi đau trần thế bay lên những bầu trời sáng tạo tự do.
Xem thêm:
Nhà văn Pháp đoạt giải Nobel Văn học 2008
Giải thưởng văn học danh giá nhất hành tinh đã thuộc về tiểu thuyết gia Jean-Marie Gustave Le Clézio. Ông là cây bút thứ 14 của Pháp được Viện Hàn lâm Thụy Điển tôn vinh.
Công bố của Viện Hàn lâm khẳng định, Nobel Văn học 2008 đã được trao cho "tác giả của những điểm xuất phát mới, của cuộc phiêu lưu đầy chất thơ và những trạng thái xuất thần của cảm xúc; người khám phá một nhân loại nằm ẩn sâu và bên ngoài nền văn minh đang ngự trị".
Jean-Marie Gustave Le Clézio sinh năm 1940 ở Nice, Pháp. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông sang Mỹ sống bằng nghề dạy học.
|

|
|
Nhà văn Jean-Marie Gustave Le Clézio. Ảnh: AFP. |
Vốn là người đam mê du lịch và văn chương, Le Clézio sáng tác từ năm lên 7 - 8 tuổi. 23 tuổi, ông thành công ngay từ tác phẩm đầu tay Le Procès-verbal. Cuốn tiểu thuyết đoạt giải thưởng Prix Renaudot 1963 và lọt vào chung khảo giải Goncourt năm đó. Năm 1980, Le Clézio tạo nên bước ngoặt lớn trong sự nghiệp văn chương của mình với cuốn Desert. Tác phẩm được Viện Hàn lâm Thụy Điển đánh giá là "chứa đựng những hình ảnh huy hoàng về một nền văn hóa đã biến mất trên sa mạc Bắc Phi, tương phản với hình ảnh một châu Âu được nhìn qua đôi mắt của những kẻ nhập cư không mời mà tới".
Đến nay, sau hơn 40 năm cầm bút, ông đã là tác giả của hơn 30 đầu sách, gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận và các công trình dịch thuật về thần thoại thổ dân châu Mỹ. Trong một cuộc khảo sát ý kiến độc giả do Tạp chí Văn học Lire (Pháp) thực hiện năm 1994, Le Clézio được 13% số người tham gia bầu chọn là nhà văn đương đại lớn nhất của Pháp. Trong đời thường, nhà văn sống bình lặng, có phần ẩn dật và lánh xa các phương tiện thông tin đại chúng.
Le Clézio sẽ nhận được huy chương, bằng chứng nhận và khoản tiền thưởng trị giá 1,3 triệu USD (hơn 22 tỷ đồng). Lễ trao giải sẽ diễn ra vào 10/12. Năm ngoái, giải thưởng thuộc về nhà văn Anh Doris Lessing.
Những quốc gia đoạt nhiều giải Nobel Văn học nhất:
|
STT |
Quốc gia |
Số giải |
|
1 |
Pháp |
14 |
|
2 |
Mỹ |
11 |
|
3 |
Anh |
10 |
|
4 |
Đức |
9 |
|
5 |
Italia |
6 |
|
5 |
Thụy Điển |
6 |
|
6 |
Nga |
5 |
|
6 |
Ba Lan |
5 |
|
6 |
Tây Ban Nha |
5 |
Nguồn: Báo Việt Nam
Giải Nobel Văn học 2008 về tay nhà văn Pháp Jean-Marie Gustave Le Clézio
NDĐT – Chiều nay, vào lúc 18 giờ (giờ Việt Nam), Viện Hàn lâm Thuỵ điển công bố giải Nobel Văn học thuộc về nhà văn người Pháp Jean-Marie Gustave Le Clezio.
Bình luận chính thức từ trang web của Viện hàn lâm Thụy Điển gọi Le Cleio là “tiểu thuyết gia của những chuyến khởi hành, của những vần thơ đầy phiêu lưu mạo hiểm và những hứng khởi xuất thần đầy nhục cảm, người khám phá nhân loại từ đằng xa và ở phía dưới nền văn minh đang ngự trị”.
Sau 23 năm kể từ ngày giải thưởng Nobel Văn học đầy danh giá thuộc về tiểu thuyết gia người Pháp Claude Simon vào năm 1985, giải Nobel Văn học năm nay lại về tay người Pháp.
Jean-Marie Gustave Le Clézio, từng dành giải Renaudot năm 1963, là người thứ 35 đồng thời là nhà văn nam thứ 24 dành giải Nobel văn học.
Là một người thích du lịch, J.M.G. Le Clézio bắt đầu cầm bút viết từ những ngày ông mới lên bảy hay tám tuổi. Vào năm 23 tuổi, tên tuổi của J.M.G. Le Clézio bắt đầu được biết đến với cuốn tiểu thuyết đầu tay Le Procès-Verbal (tạm dịch:Sự phế truất), cuốn sách đã lọt vào vòng đề cử cho giải thưởng Goncourt, đồng thời đoạt giải Prix Renaudot năm 1963.
Từ năm 1963 đến năm 1975, Le Clézio dành hết tâm huyết của mình cho công việc nghiên cứu trong các lĩnh vực tâm thần học,viết văn, ngôn ngữ… kế thừa những kết quả của các tác giả nổi tiếng cùng thời như Georges Perec và Michel Butor.
Những năm cuối thập niên 1970, phong cách sáng tác của Le Clézio đột nhiên thay đổi mạnh mẽ, ông chấm dứt các nghiên cứu của mình và bắt đầu tập trung vào viết những cuốn tiểu thuyết có nội dung về thời thơ ấu, những chuyến du ngoạn và thời niên thiếu. Năm 1980, Le Clézio là người đầu tiên dành giải thưởng Prix Paul Morand, với cuốn tiểu thuyết Désert, được trao bởi Viện hàn lâm Pháp.
Năm 1994, sau một cuộc khảo sát của tạp chí văn học nổi tiếng Pháp, Lire, đã có 13% độc giả bình chọn Le Clézio là tiểu thuyết gia tiếng Pháp vĩ đại nhất của mọi thời đại.
Le Clézio bắt đầu viết văn từ năm lên bẩy tuổi. Ông là nhà văn được công chúng tán thưởng và trong cuộc bầu chọn có kết hợp điều tra phỏng vấn năm 1994 nhiều giáo sư, giảng viên trung học do NXB Gallimard phối hợp với tạp chí Lire và hãng Carré Latin thực hiện, ông được xếp vị trí cao nhất trong số những nhà văn Pháp hiện còn sống. Các sáng tác của ông thiên về hiện thực cuộc sống và mong ước của con người .
Nguồn: Baomoi.com Số lượt đọc:
602
-
Cập nhật lần cuối:
11/10/2008 02:35:26 PM
Ý kiến của bạn về bài viết: |  | | Nhà thơ - Đạo diễn Đỗ Minh Tuấn |
Thông tin liên quan: Bàn về tiểu thuyết02/12/2009 02:09' PM Ấy triết lý của tiểu thuyết như thế mà ảnh hưởng của tiểu thuyết lại như thế. ảnh hưởng ấy thật là sâu xa vô cùng. Song trong ảnh hưởng ấy có sự hay mà cũng có sự không hay. “Người đàn bà thép” của văn chương hậu hiện đại28/10/2009 09:56' AM Tri thức cũng như lan toả muôn vàn chiều kích khác của ngôn ngữ đặc thù, thì sáng tác văn chương theo khuynh hướng hậu hiện đại dường như còn được kỳ vọng hơn thế, tại lãnh địa vốn dĩ là suy tưởng và tự nhận thức của nó. Lao công của nghề viết?25/08/2009 11:02' AM Khoảng thập kỷ 80 của thế kỷ trước, văn học nữ giới là một xa xỉ phẩm của xã hội phương Đông, thậm chí còn bị hiểu đơn giản là những người đàn bà viết văn, hoặc chống lại xã hội phụ quyền. Tất nhiên là đàn bà viết văn, nhưng văn học nữ giới không phải chỉ có vậy, và không phải chỉ cần có vậy. Văn thuyết09/06/2009 12:51' PM Văn là gì? Người đời nay thường hiểu văn là văn chương, mà không biết rằng tiên nho cho chữ văn một cái nghĩa rất rộng. Văn là cái vẻ thiên nhiên ở trong người, tự nó xuất hiện ra lời nói câu viết, không phải học mà làm được. Như thế thì phàm người có chí khí, có tư tưởng, có phẩm cách cao là những người có văn cả, nếu dụng tâm làm văn thì văn ấy mới thực là văn chương. Bàn thêm về vị thế của nhà văn Việt Nam hiện đại20/05/2009 02:02' PM Một tiêu chí quan trọng để nhận diện về tính chất của một giai đoạn văn học là vị thế xã hội của nhà văn: nó tiết lộ những tương tác phức tạp của văn học với các nhân tố khác như: bảng thang giá trị trong xã hội, những định hướng từ chính trị... Một cái nhìn lướt qua mang tính đối chiếu giữa vị thế xã hội của nhà văn giai đoạn 1945 - 1975 và từ sau 1975 đến nay có thể giúp ta nhận thức rõ hơn về ý nghĩa văn học sử của khái niệm công cụ này. Nữ sinh và văn học đô thị24/04/2009 03:02' PM Có người đã chê văn học Việt Nam chưa phản ánh được nhịp sống đô thị. Không hẳn vậy, thân phận nữ sinh đô thị Việt Nam trong văn học chí ít đã phản ánh nhịp sống ấy, hoặc ngược lại. Có thể thấy xã hội đô thị Việt Nam mỗi thời kỳ qua thân phận các thế hệ nữ sinh trên các trang văn. Văn học và tác dụng chiều sâu trong việc xây dựng nhân cách văn hóa con người16/03/2009 10:23' AM Trước khi bàn về tác dụng chiều sâu của văn học trong xây dựng nhân cách văn hoá, tôi muốn nêu mấy suy nghĩ về vị thế của văn học đương cố cơ bị nghiêng ngả và có chiều sút kém trong đời sống văn hoá hiện đại. Văn học trước hết là sách, là hình ảnh ngôn từ, là ngôn từ mực đen trên giấy trắng. Mấy thập kỉ nay, văn học phải cạnh tranh với một đối thủ ghê gớm mà sự lớn mạnh ngày càng hùng hậu, càng tăng sức áp đảo: đó là truyền hình. Ở những nước công nghiệp phát triển, những người viết sách (trong đó có nhà văn) tỏ ra bi quan trước sự "bành trướng" của truyền hình. Thơ, thay đổi để tồn tại13/03/2009 04:00' PM Mỗi trường phái mới bằng mỗi thử nghiệm hay mỗi bước chuyển đều có sự thất bại hay thất thố bên cạnh bật lên các đại biểu xuất sắc của nó. Nhà phê bình không thể dùng tiêu chí thẩm mĩ này để đánh giá sáng tác thuộc hệ mĩ học khác. Càng không đánh giá sáng tác thuộc mĩ học mới qua những sản phẩm kém cỏi được. Nhà tư tưởng chỉ có thể bị vượt qua khi phần vô ngôn của tư tưởng ông ta được khai mở trọn vẹn, - Heidegger nói thế. Một trào lưu văn nghệ chỉ có thể bị vượt bỏ khi chính tác phẩm đại biểu xuất sắc của nó bị vượt qua. Vượt qua, không phải người đọc không còn thưởng thức nó nữa, mà là: người viết hết còn sáng tác theo vết mòn của nó! Phê bình văn học nữ quyền04/03/2009 01:17' PM Trong nửa thế kỷ qua, các học viện trên khắp thế giới, nhất là ở Âu Mỹ, đã chứng kiến những chuyển biến quan trọng liên quan đến giới tính. Chẳng những số lượng nữ giáo sư và nữ sinh viên tăng nhanh trong các học viện, mà học thuyết nữ quyền còn ảnh hưởng đến nhiều bộ môn học thuật khác, từ triết học, lịch sử, đến ngôn ngữ học, xã hội học, nhân chủng học, truyền thông đại chúng, kinh tế, luật… 10 tiểu thuyết hay nhất 200803/01/2009 06:17' PM Khó hiểu, điên rồ, bạo lực, thô lỗ, buông thả, và quá dài. Đó là "2666" – tiểu thuyết hay nhất 2008 nhưng ngay con số 2666 không hề xuất hiện bất kỳ đâu trong toàn văn. Hai cốt truyện trung tâm của "2666" là cuộc đời của nhà văn bí ẩn Archimboldi và một án mạng bí mật sát hại hàng trăm phụ nữ ở thành phố Santa Teresa lấy bối cảnh Mexico. Chân trời có người bay08/12/2008 04:16' PM Đây là tập tùy bút chân dung viết về các nhà nghiên cứu những người âm thầm làm việc trong bóng tối. Một công việc nặng nhọc, khổ sai. Những đóng góp học thuật của họ, dẫu có tác động tới hành trình tư duy dân tộc đi nữa, thì cũng ít được bạn đọc rộng rãi biết đến, hoặc hiểu đúng, kể cả trong giới hẹp... Tính chuyên nghiệp của Nhà văn Việt Nam: Có hay không?04/12/2008 10:54' PM Một cách hết sức sòng phẳng, chúng ta liệu có thể khẳng định được rằng văn chương Việt Nam đương đại có bao nhiêu tác phẩm được thế giới biết đến bởi chính giá trị tự thân của chúng? Văn chương trải nghiệm đàn bà30/07/2008 01:31' PM Lessing được xem là biểu tượng của phong trào bình đẳng giới. Những trang viết của bà thấp thoáng những trải nghiệm từ cuộc sống riêng với 2 lần kết hôn rồi ly dị, có 3 đứa con… Con đường văn học01/05/2008 01:09' PM Khi tôi nhận ra rằng văn học là một thế giới hoang tưởng của người viết thì không có nghĩa là tôi hạ thấp giá trị văn học. Tôi chỉ vạch ra khía cạnh vô bổ, vô nghĩa của văn học mà thôi. Tôi cũng đã cảnh tỉnh để người viết dè chừng khả năng bị tha hóa về mặt tinh thần, đạo đức khi cầm bút viết... Văn học trẻ - khát vọng lối đi riêng27/04/2008 11:22' AM Dù là phản ánh bức tranh cuộc sống hay một khoảng khuất riêng biệt, không ít nhà văn trẻ đang muốn nói tiếng nói riêng của mình với bạn đọc.. Văn học Nga: “hiện tượng Duhless”05/06/2007 12:57' PM Duhless” (từ ghép, với “dukh” (linh hồn) tiếng Nga ghép với hậu tố “less” (không có) trong tiếng Anh - tạm dịch: vô hồn”) là tên tác phẩm mới xuất bản của tác giả Nga 31 tuổi Sergei Minaev. Sách đã bán sạch ngay trong tuần đầu phát hành... Văn học nghệ thuật: đi con đường thị trường04/03/2007 07:30' PM Tích cực mở cửa và hỗ trợ cho các phẩm bên ngoài vào, cho tác phẩm bên trong ra ngoài tức là đã làm không khí sinh hoạt văn chương trong nước sinh động lên và nhờ đó những tác phẩm có giá trị sẽ xuất hiện... Văn chương - văn học năm 2006, chuyển dịch trong sự “nhiễu loạn”?04/02/2007 09:44' AM Tới năm 2006, với những sự kiện - hiện tượng phong phú và đa dạng của nó, tôi lại thấy văn chương - văn học nước nhà như đang phát lộ một vài dấu hiệu chuyển mình. Và vì thế, dường như đâu đó ở cuối con đường, đã le lói một niềm hy vọng? Sáng tạo văn học nghệ thuật và quyền tác giả ở Việt Nam03/01/2007 09:43' AM Đọc toàn bộ tác phẩm, các bạn sẽ có được cái nhìn khái quát về lịch sử hình thành, thực trạng tình hình và tương lai của quyền tác giả ở Việt Nam. Hoạt động sáng tạo và các khía cạnh văn hoá, nghệ thuật, pháp luật, tổ chức bộ máy thực thi và hội nhập quốc tế về quyền tác giả, đã được đề cập khái quát... Đặc điểm phê bình văn học Việt Nam - nhìn từ gốc độ tiếp nhận18/11/2006 12:00' AM Xã hội Việt Nam đã và đang hiện đại hóa, nên văn học Việt Nam không thể dẫm chân mãi trong vũng cổ truyền mà không hiện đại hóa. Và, thực tế, hơn một thế kỷ qua, nó cũng đã và đang hiện đại hóa... Văn chương trẻ tăng tốc trong mơ hồ19/03/2010 04:29' PM Nhìn lại năm 2009, chợt nhận ra một điều tương đối kỳ lạ: Cuộc suy thoái kinh tế ảnh hưởng đến mọi ngành, mọi nghề nhưng không hề ảnh hưởng đến hoạt động văn chương. Đặc biệt là văn chương trẻ, tác phẩm vẫn công bố rôm rả, tác giả vẫn đăng đàn hoan hỉ. Mùa xuân trong tranh17/03/2010 02:21' PM Trong sự chuyển dịch không ngừng của thời gian, mùa nào trong năm cũng có thể trở thành đối tượng sáng tác của người họa sĩ. Tuy nhiên, vượt lên ba mùa khác, mùa Xuân dường như tạo được cảm hứng đặc biệt, khơi được nguồn sáng tạo mạnh mẽ hơn đối với các họa sĩ từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Gustav Klimt - Hội hè của sắc màu15/03/2010 09:31' AM Trước đây đúng 100 năm tại Kunstschau – Triển lãm nghệ thuật lần thứ nhất ở Vienna – thủ đô nước Áo, họa sĩ Gustav Klimt (1862-1918) đã trưng bày bức Nụ Hôn. Bức tranh này trở thành một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của thế kỷ. Theo dòng nhan sắc08/03/2010 11:14' AM Lẩn thẩn ngược dòng thời gian mới thấy, xứ ta xưa nay danh tiếng giai nhân thời nào cũng có, từ bậc anh thư thời dựng nước như Dương Vân Nga, đến bậc thi sĩ văn nhân có nhan sắc lại đa tình như Hồ Xuân Hương. Bảy nàng con gái của Eva03/03/2010 05:00' PM Tại sao lại là bảy mà không phải là sáu hay mười? Hãy nghe chuyện của các nàng, có thể bạn sẽ thấy mình từng gặp nhiều hơn hoặc ít hơn chừng ấy. Bảy nàng có thể là bảy người phụ nữ, hoặc có thể chỉ là một người duy nhất. Chính những gương mặt biến ảo thay thế nhau của các nàng đã làm nên dung nhan bí ẩn của mộ nửa nhân loại: NGƯỜI PHỤ NỮ! Nghệ thuật rực rỡ thời 2.016/02/2010 02:07' PM Nếu bạn nghĩ nghệ thuật là những bức tranh, những điều khắc đẹp đẽ… và bạn đứng lặng yên chiêm nghiệm chúng; nghệ thuật là những thứ hàn lâm và bạn là người đứng xem từ phía bên ngoài… Biết nói gì về... Chuyệ̣n tình12/02/2010 06:56' AM “Biết nói gì về một cô gái hai mươi lăm tuổi vừa mới qua đời? Rằng nàng đẹp và thông minh. Rằng nàng yêu nhạc Mozart và Bach. Yêu Beatles. Và yêu tôi”. Erich Segal mở đầu Chuyện tình (Love story)... “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”...08/02/2010 09:53' AM Trong kho tàng thơ tình Việt từ truyền thống đến hiện đại đã hiện diện một dòng thơ tình khá riêng biệt, xuôi theo những bước chân mùa đi mải miết, theo tuần hoàn đất Việt bốn mùa Xuân – Hạ - Thu – Đông. Chẳng ngẫu nhiên, những câu thơ Việt lại thường là thơ tình, đặc biệt thơ về mùa xuân và mùa thu. Bài khác: Hãy nhìn truyện tiếu lâm xưa dưới một cái nhìn khoa học01/01/1900 12:00' AM Tục tĩu, bất nhã, thậm chí vô học, vô văn hoá... đó là những điều mà người ta gán cho một số truyện tiếu lâm. Về “Hoạ sĩ là ai?”11/10/2008 06:48' AM Bài “Hoạ sĩ là ai?” của Phan Cẩm Thượng đăng trên báo Thể thao và Văn hoá, dường như, đã nhận được sự đồng tình của khá nhiều người trong làng mỹ thuật Việt Nam, và khá nhiều người có chút quan tâm, hiểu biết về mỹ thuật Việt Nam. Thị hiếu của tôi là tôi09/10/2008 08:56' PM Hàng năm, theo thông lệ, cứ sắp tới mồng 1 tháng 6 và Trung Thu, các tờ báo và tạp chí cùng những nhà xuất bản có uy tín đối với lứa tuổi trẻ học trò lại phải sẵn sàng tinh thần để được nghe các bậc đạo đức lên lớp. Đều là những phàn nàn và chỉ trích lặp đi lặp lại, bình cũ rượu cũ... Nhà văn Nguyễn Khải - Tôi chỉ là người của một thời26/09/2008 06:42' PM Nửa thế kỷ cầm bút, ở thời nào Nguyễn Khải cũng có người đọc của mình. Những ngày nông thôn miền Bắc đổi thay trước cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp, ông có Xung đột (1957), Mùa lạc (1960), Hãy đi xa hơn nữa (1963). Thế giới đòi hỏi ta mở rộng tầm mắt19/08/2008 09:33' PM Thế giới to lớn thật, dường như càng ngày càng to lớn hơn Cảm giác này mỗi ngày một khiến tôi ngạc nhiên. Mỗi khi lại gần bàn cầm bút lấy giấy ra, trong lòng tràn ngập nỗi lo, chân tay run rẩy như sợ ma quỉ. Văn học rút cuộc làm gì, rút cuộc thế nào là văn học? Văn chương trải nghiệm đàn bà30/07/2008 01:31' PM Lessing được xem là biểu tượng của phong trào bình đẳng giới. Những trang viết của bà thấp thoáng những trải nghiệm từ cuộc sống riêng với 2 lần kết hôn rồi ly dị, có 3 đứa con… Viết là giải đáp03/07/2008 05:37' PM Tôi viết như một cách để thoả mãn đam mê của mình. Trong cuộc sống có rất nhiều sự việc xảy ra hàng ngày mà không có lời giải đáp. Tôi tìm thấy câu trả lời từ triết lý cuộc sống và muốn chia sẻ với mọi người, thế là tôi viết”. Đó là lời giải thích về chuyện viết lách của ông Tây Christophe Dallot, hiện đang sống tại Việt Nam Văn học thiếu nhi: Nhìn đâu cũng trống vắng01/06/2008 04:23' PM Thiếu một đội ngũ sáng tác chuyên nghiệp và tâm huyết, quá ít những tác phẩm hấp dẫn bạn đọc nhỏ tuổi, thiếu cả một công nghệ quảng bá sách hay đến với các em… đó là những khoảng trống trong mảng sách văn học trong nước dành cho thiếu nhi... |