Bài viết này tóm tắt những khác biệt cơ bản giữa giáo dục đào tạo (GDĐT) cấp cử nhân (Bechelor of Arts hay gọi tắt là BA) ở Mỹ và ở Việt Nam hiện nay. Những nét cơ bản này dựa vào so sánh chương trình học kinh tế ở VN và chương trình học khoa học cơ bản, xã hội hoặc nhân văn (liberalarts trong đó có kinh tế, toán, vật lý, hoá học, văn chương, tâm lý học…)
1. Chương trình học ở VN quá dài
Thời gian học 4 năm ở lớp tại VN là 2.183 giờ so với 1 380 giờ ở Mỹ. Như vậy chương trình ở VN dài hơn gần 60%. Điều này có thể là do thiếu sách vở, nên thày phải vào lớp đọc cho sinh viên chép hoặc là quán tính từ quá khứ để lại. Với thời gian ngồi lớp như vậy, SV sẽ còn ít thì giờ để tự học, nghiên cứu.
2. Chương trình ở VN không phải là dạy nghề, cũng không đào tạo một người có kiến thức sâu và tính sáng tạo.
Chương trình học kinh tế (KT) cần l.451 giờ học KT, so với ở Mỹ chỉ cần tối thiểu là 480 giờ (tức là 1/3 chương trình Đại học). Như vậy, sinh viên VN phải phải học gấp 3 lần số giờ ở đại học Mỹ.
Nhìn chương trình giảng dạy ở ĐH Kinh tế TP.HCM ta thấy, SV trong 4 năm phải học gần như tất cả mọi thứ trên đời về KT mà nhà trường có thể nghĩ ra được. Họ học từ các môn cơ bản như KT vĩ mô và vi mô, đến các môn như KT lao động, quản trị xí nghiệp, kế toán, địa lý KT, luật kinh tế, dân số học, chính sách thương mại, kinh tế tài nguyên và môi trường, phân tích dự án KT, thị trường chứng khoán… Đây là những môn ít khi dạy ở cấp ĐH 4 năm và có dạy thì chỉ là những môn để sinh viên có thể chọn lựa. Đây cũng là những môn mà trường ĐH có thầy đã và đang nghiên cứu chuyên sâu. Đòi hỏi mỗi thứ một tí, SV không có khả năng hoặc thì giờ đi sâu vào bất cứ vấn đề gì và chắc chắn là thầy cũng chỉ đọc sách nói lại mà không biết thầy có hiểu không nữa. Theo các tài liệu giáo khoa của trường, thì nội dung rất nặng lý thuyết mà nhiều phần sinh viên ở Mỹ chỉ học trong chương trình sau cử nhân. Như vậy trường chỉ nhằm nhồi sọ kiến thức lý thuyết KT mà sự phân chia chi li các lớp học thì có vẻ thực dụng như dạy nghề.
3/ Chương trình ở Việt Nam không trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản và toàn diện, khoa học tự nhiên, nhân văn, văn chương và nghệ thuật, không có một lớp nào về phương pháp nghiên cứu và viết luận văn.
Chương trình ở Mỹ (các Đại học danh tiếng) đòi hỏi SV phải học một chương trình cơ bản dù là học ngành gì khoa học cơ bản đó là học ngành gì khoa học cơ bản, xã hội hoặc nhân văn. Đây chính là chương trình thể hiện đích đào tạo những cá nhân có tri thức cơ bản, có phương pháp suy nghĩ và phân tích các vấn đề, có khả năng viết luận văn nghiên cứu. Chương trình cơ bản bắt buộc này cũng chiếm 1/3 thời gian học 4 năm như thời gian tối thiểu dành cho ngành học chính. Chúng gồm có những môn như sau:
Chương trình kiến thức cơ bản bắt buộc ở Đại học Mỹ:
|
|
Tín chỉ (theo chương trình 3 kỳ học một năm) |
Thời gian học (giờ) |
|
Hội thảo về phương pháp suy nghĩ, phân tích, nghiên cứu và viết luận văn |
2 |
60 |
|
Ngoại ngữ hoặc qua kỳ thi sát hạch* |
6 |
180 |
|
Viết tiếng Anh hoặc qua kỳ thi sát hạch* |
2 |
60 |
|
Kiến thức cơ bản
· Khoa học tự nhiên |
1 |
180 |
|
· Quy tắc và phương pháp logic
· Khoa học xã hội và hành vi
· Sử học
· Giá trị (triết học, tôn giáo hoặc đạo đức)
· Văn học và nghệ thuật |
1
1
1
1
1 |
|
|
Tổng chương trình cơ bản |
16 |
480 |
|
Tổng chương trình 4 năm |
45-46 |
1.380 |
(Nguồn: dựa vào chương trình của Northwestern University - Nếu qua được kỳ thi sát hạch, học sinh có thể học ở những lớp cao hơn hoặc học về văn học nước ngoài dạy bằng tiếng nước ngoài, hoặc văn chương tiếng Anh để thay thế.)
4/ ĐH ở Việt Nam tất cả các môn có tính bắt buộc, SV không có quyền tự chọn. Ngược lại ở Mỹ, SV có quyền tự chọn đến 1/3 thời gian học dù học bất cứ ngành chính nào (như toán, vật lý, hóa học, kinh tế, tâm lý, văn chương…)
Việc tự chọn là rất quan trọng để SV mở mang kiến thức về nhiều ngành học khác nhau. Việc hiểu biết liên ngành này cho phép SV hợp tác nghiên cứu liên ngành, phân tích và nhìn vấn đề không bị cục diện, bó hẹp vào chuyên môn của mình. SVĐH với quyền tự chọn có thể chọn hai ngành chuyên môn, hoặc một ngành chính và một ngành phụ. Sau khi ra trường, họ có thể làm việc ở nhiều chuyên môn khác nhau chứ không bị bó vào chuyên môn duy nhất mà mình học ở trường, kể cả thay đổi hoàn toàn để theo một ngành khác. Triết lý giáo dục ở Mỹ cho phép và trang bị cho sinh viên thực hiện việc đổi ngành mà không bị hụt hẫng.
Chương trình 4 năm đại học ở Mỹ:
|
Kiến thức cơ bản bắt buộc (trong đó có những lớp bắt buộc và những lớp tự chọn trong những ngành bắt buộc) |
1/3 chương trình |
680 giờ |
|
Ngành chính
· Ngành bắt buộc học
· Phần tự chọn trong ngành chính |
1/3 chương trình
1/6 chương trình
1/6 chương trình |
680 giờ |
|
Phần tự chọn trong các ngành khác, học sinh có thể lấy thêm một ngành chính khác, hoặc 1 ngành phụ và những lớp tự chọn thêm trong ngành chính |
1/3 chương trình |
660 giờ |
|
Tổng |
|
1.380 giờ |
5/ Trong ngành học chính (toán, vật lý, hóahọc, kinh tế), ngoài các lớp cơ bản phải học, SV Mỹ có quyền tự chọn các lớp trong ngành chính. Ngược lại SV Việt Nam phải học tất cả mọi thứ mà nhà trường quyết định sẵn.
Trong ngành chính (major), chẳng hạn như KT, phần bắt buộc học cũng chỉ khoảng 1/2. Học sinh sẽ tự chọn những môn trong ngành KT mà họ thích. Ví dụ về KT, học sinh bị đòi hỏi học những môn sau:
|
|
Tín chỉ |
Giờ |
|
Kinh tế vi mô nhập môn |
1 |
30 |
|
Kinh tế vĩ mô nhập môn |
1 |
30 |
|
Toán calculus nhập môn |
1 |
30 |
|
Thống kê cho ngành XH nhân văn |
1 |
30 |
|
Kinh trắc học nhập môn |
1 |
30 |
|
Kinh tế vi mô trung cấp |
1 |
30 |
|
Kinh tế vĩ mô trung cấp |
1 |
30 |
|
Tổng giờ ngành học chính bắt buộc |
|
210 |
|
Giờ học ngành chính tự lựa chọn |
|
270 |
|
Tổng giờ học trong ngành chính |
|
480 |
6/ Về chương trình cách tân
Do chương trình giảng dạy ở VN quá dài, vấn đề cắt bớt là cần thiết nhằm tạo thì giờ cho SV và thầy giáo nghiên cứu, tư học. Chương trình cắt bớt này có thể cắt bớt hoặc vẫn giữ nguyên giờ học về chủ nghĩa Mác - Lê nin. Nếu áp dụng đúng số giờ ở Mỹ thì tổng giờ học sẽ là 1.380, trong đó chỉ có 208 là môn học tự chọn (coi bảng sau). Nếu đưa tổng số giờ cho các môn tự chọn lên bằng ở Mỹ thì tổng số giờ học sẽ lên tới 1.640 giờ, cũng chỉ hơn Mỹ 20%, như vậy là giảm được 25% so với hiện nay.
Thời gian theo mô hình Mỹ nhưng giữ nguyên thời gian dạy chính trị như hiện nay
|
|
Giờ học 4 năm |
|
Chương trình cơ bản |
480 |
|
Ngành chính (có thể có toán, vật lý, kinh tế…) |
480 |
|
Chủ nghĩa Mác - Lê nin |
200 |
|
Tự chọn |
208 |
|
Tổng |
1.380 |
7/ Khả năng cách tân chương trình ở Việt Nam
Khả năng canh tân chương trình ở Việt Nam Khả năng canh tân chương trình ở VN hiện nay bị giới hạn bởi mô hình tổ chức ĐH ở VN. Trước tiên, để hiểu những hạn chế gặp phải, cần hiểu về những yếu kém của đại học VN, và do đó trước tiên cần biết qua về mô hình đại học Mỹ mà các nước trên thế giới hiện nay đang noi theo, kể cả ĐH ở Pháp. ĐH Mỹ có thể chia làm hai loại: university và col1ege (hoặc có khi gọi là faculty). Ví dụ ĐH Northwestern có nhiều trường (college) như: Trường khoa học tự nhiên và nhân văn (school of arts and science, đây là chữ thường dùng cho trường liberal arts như đã nói ở đoạn đầu, tức là gồm các ngành khoa học cơ bản như toán, vật lý, hoá học, và khoa học nhân văn như sử, kinh tế, chính trị, tâm lý…
· Trường thương mại (school of business)
· Trường sư phạm (school of education),
· Trường kỹ sư (school of engineering),
· Trường luật,
· Trường y khoa,
· Trường âm nhạc…
Khi gọi là university thì Đại học gồm các trường như trên cộng thêm với trường sau cử nhân về khoa học tự nhiên và nhân văn (thường được gọi là graduate school of arts and science). Hầu hết các ĐH gọi là university cấp thêm ít nhất là Bằng Cao học (MA) và thường là cấp cả Bằng Tiến sĩ (PHD). Các trường chỉ cho Bằng Cử nhân thì thường gọi là college3.
Trường college of arts and science chính là Trường Khoa học Tự nhiên và Nhân văn, ở cấp Cử nhân (BA). Các trường khác hiện nay được tổng hợp vào một ĐH, nhưng trước kia được coi là trường chuyên nghiệp, nếu không nói là trường dạy nghề. Tuy nhiên, SV các trường chuyên nghiệp như vậy hiện nay cũng phải học chương trình kiến thức cơ bản, mặc dù có khi được châm chước giảm thiểu hơn một chút. Nhiều trường chuyên nghiệp chỉ có ở dạng sau cử nhân, tức là học sinh phải học xong Trường Khoa học Tự nhiên và Nhân văn rồi mới được nhận vào: đây là trường Luật, Y khoa, và nhiều nơi là trường Thương mại với chương trình MBA.
Với tổ chức như trên, Trường Khoa học Tự nhiên và Nhân văn là linh hồn của GDĐH, vì ở đây có thể dễ dàng thực hiện chương trình kiến thức cơ bản, học sinh các ngành khác nhau có thể học chung và có thể lấy những lớp ở những trường hoặc phân khoa (ngành chính) khác trong cùng trường cho chương trình tự chọn không thuộc ngành chính.
Chương trình học kinh tế cần 1.451 giờ học kinh tế, so với ở Mỹ chỉ cần tối thiểu là 480 giờ (tức là 1/3 chương trình Đại học). Như vậy SV Việt Nam phải học gấp 3 lấn số giờ ở Đại học Mỹ. Việc tự chọn là rất quan trọng để SV mở mang kiến thức về nhiều ngành học khác nhaui. Việc hiểu biết liên ngành này cho phép SV hợp tác nghiên cứu liên ngành, phân tích và nhìn vấn đề không bị cực diện, bó hẹp vào chuyên môn của mình.
Đại học Việt Nam hiện nay vẫn được tổ chức như là những ốc đảo, ốc đảo về tổ chức và ốc đảo về địa lý (theo nghĩa trường Nhân văn ở một nơi, trường Luật ở một nơi, trường Khoa học tự nhiên (như toán, vật lý, hóa học, sinh học) ở một nơi khác.
ĐH VN hiện nay vẫn được tổ chức như là những ốc đảo, ốc đảo về tổ chức và ốc đảo về địa lý (theo nghĩa trường nhân văn ở một nơi, trường luật ở một nơi, trường khoa học tự nhiên (như toán, vật lý, hoá học, sinh học) ở một nơi khác). Khi các trường ĐH ở VN được tổ chức lại thành các ĐH Quốc gia như ĐH Quốc gia TP.HCM, ĐH Quốc gia Hà Nội, thì việc tổ chức lại chỉ là cái tên, với một lớp quản lý cao hơn ở phía trên, chương trình của đại học đã không tổng hợp lại, học sinh ở trường này không thể lấy lớp ở trường khác và địa dư khác biệt cũng làm cho việc lấy lớp khó khăn. Ốc đảo về tổ chức cũng không cho phép thầy giáo kết hợp, trao đổi và nghiên cứu chung. Việc tổ chức ốc đảo này tiếp tục vì triết lý giáo dục tổng hợp không được thể hiện trong chương trình giảng dạy ở mỗi trường. Mới đây trường ĐH KT rút ra khỏi trường ĐHQG thành một trường độc lập. Do đó việc học toán chẳng hạn ở những thầy dạy KT thì rõ ràng là học từ một người biết sơ về toán. Ngược lại muốn dạy về KT môi trường mà không biết gì về hoá học hoặc nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc không có cơ hội giao lưu với những người ở những ngành này thì mục đích cũng chẳng khác gì nhằm tạo ra những người khiếm thị.
Dù với những trở ngại này, vẫn có thể canh tân chương trình nếu như lấy triết lý GD ĐH là đào tạo ra những người có kiến thức cơ bản.
(1). Hệ thống tín chỉ ở Mỹ tại các trường không giống nhau.
(2). Việc học sinh ớ một khoa hoặc một trường tự chọn lớp ở một khoa khác hoặc môi trường khác phải nằm trong khuôn khổ soạn sẵn mà khoa hoặc trường cho là tương đương. nếu không học sinh phải xin phép đặc biệt của khoa mà học sinh học nhằm công nhân sự tương đương Điều này cần thiết nhằm bảo đảm chất lượng của lớp học.
(3). Ở Mỹ, vào college danh tiếng cũng khó như vào universlty danh tiếng. Các liberal arts college thường có dưới 2.000 sinh viên Các college danh tiếng như Williams college. Amherst college, Swarthmore cũng khó như vào Harvard, Yale, Columbia...
Có thể tham khảo thông tin tại:
http://www.usnews.com/usnews/edu/college/rankings/rankindex_brief.php Nguồn:
Tạp chí Khám Phá Số lượt đọc:
14179
-
Cập nhật lần cuối:
01/01/2006 10:27:43 AM |  |
Thông tin liên quan: Phản biện các góc nhìn khác nhau về GD Việt Nam11/11/2009 09:17' AM Sự đánh giá, phân tích thực trạng cũng như gợi ý giải pháp mà nhiều chuyên gia kỳ cựu và đầu ngành giáo dục Việt Nam, cũng như của một số người Việt Nam quan tâm tới lĩnh vực này có lẽ toàn diện, sâu sắc, sát thực hơn những gì tôi nhận được từ hai tài liệu vừa được đọc. "Nhà vua chết rồi, Hoàng đế vạn tuế!"04/11/2009 02:35' PM "Vấn đề quan trọng bậc nhất không phải là tranh cãi xem ông GS Koblitz và bản Báo cáo Harvard cái nào đúng cái nào sai. Vấn đề quan trọng nhất là cái tai của người lắng nghe những lời phê phán." - Nhà nghiên cứu giáo dục Phạm Toàn Tranh luận sau báo cáo của Harvard về giáo dục Việt Nam29/10/2009 11:23' AM Khi Intel thông báo các yêu cầu của mình, sinh viên và các trường đại học đã có những đáp ứng có tính xây dựng. Chúng tôi còn cả một chặng đường, nhưng những tiến bộ gần đây là đáng kể. Bộ mặt mới của đại học Việt Nam?05/10/2009 11:01' AM Hệ thống đại học ở một nước như Việt Nam phải phát triển theo một quỹ đạo tối ưu giữa số lượng và chất lượng. Cần mở rộng quy mô để thỏa mãn nhu cầu được học ngày càng cao của người dân (phương nằm ngang), đồng thời phải nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học (NCKH) ở một số trường trọng điểm, được xem như những chiếc máy cái cho nền khoa học và đại học nước nhà (phương thẳng đứng). Làm sao để đào tạo người có “tư duy sáng tạo”?05/09/2009 08:15' AM Trước tiên, tôi muốn tìm hiểu cụm từ “tư duy sáng tạo” mà một số người Việt Nam đang dùng hiện nay nghĩa là gì. Nói giáo dục đào tạo ra những người “biết suy luận” (có người gọi là có “tính chủ động tư duy”) thì tôi hiểu. Còn từ “sáng tạo” thì tôi hiểu theo nghĩa là “phát minh, tạo ra những cái mới có giá trị về vật chất hay tinh thần mà tới nay chưa có; tìm ra những giải pháp độc đáo chưa ai dùng để giải quyết vấn đề này nọ; hoặc là biết phù hợp hóa những phát minh của người khác vào khung cảnh đặc biệt của mình”. Nếu quả vậy, tôi xin được phát biểu đôi lời về việc giáo dục đào tạo ra những con người biết suy luận. Phải dám so mình với thế giới bên ngoài19/06/2009 09:50' AM "Không muốn góp thêm lời phàn nàn, không mơ ước sự kỳ diệu của Gióng" PGS.TS Phạm Duy Nghĩa "góp vài thiển nghĩ tản mạn vì những trường đại học xứng đáng cho thế hệ con cháu chúng ta". Thấy gì từ một số mô hình giáo dục tiên tiến?04/06/2009 05:00' PM Trong khi người Mỹ coi những tranh cãi trong giáo dục như một mớ bòng bong, người nước khác lại thấy đó là biểu hiện của sức sống và sự lành mạnh. Như vậy, quan điểm của bạn phụ thuộc vào địa điểm mà cái nhìn của bạn. Biết người, cần biết cả… ta06/01/2009 10:03' AM Tiếp tục bước trên sân chơi quốc tế 2009, chúng ta vừa phải nhập cuộc, vừa phải tỉnh táo biết mình là ai, không thu mình lại, không bắt chước rập khuôn. Làm thế nào để tiếp nhận và lên qua làn sóng toàn cầu. Đó là thách thức đối với giáo dục Việt Nam, trước hết là với những người có trách nhiệm lãnh đạo, với nhà quản lý giáo dục hiện nay. Sinh viên muốn được đối xử như người lớn19/12/2008 12:50' PM Việt Nam (VN) sẽ mở cửa giáo dục đại học (ĐH) theo cam kết khi gia nhập của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ đầu năm 2009. Trong cam kết này, dịch vụ giáo dục được đặt bên cạnh những dịch vụ khác như y tế, viễn thông, phân phối, vận chuyển... SVVN đã có cuộc trò chuyện với TS Phạm Duy Nghĩa (ĐH Quốc gia Hà Nội) trước thời điểm quan trọng này. Đại học: Tiền không mua được đẳng cấp11/11/2008 11:50' PM Một trong các giải pháp của “đề án đổi mới giáo dục đại học 2006-2020” của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo là cho phép thành lập nhiều trường đại học để “đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực cao”. Nhưng đại học không phải là địa chỉ để “đào tạo nhân lực trong các lĩnh vực công nghệ và dịch vụ chất lượng cao”. Đó là một lối suy nghĩ dễ tính. Thành lập một trường, và rồi hệ thống đại học, phải xuất phát từ sự suy tư thâm hậu và sâu sắc về hiện trạng và tương lai của đất nước. “Giáo dục nhồi nhét thì dẫn đến “vô văn hóa”26/10/2008 01:17' AM Bằng kinh nghiệm của nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy tại trường Đại học Công nghệ Tokyo (Nhật Bản) và Đại học Sungkyunkwan (Hàn Quốc), GS Vật lý Vũ Văn Hùng chia sẻ những quan sát của ông về tính chủ động trong các giảng đường đại học tại các quốc gia nói trên. Giáo dục Mỹ với những trẻ em có tài27/07/2007 07:08' AM Thomas L. Friedman, người khởi xướng một lý thuyết hay được nhắc đến là lý thuyết “Thế giới phẳng”luôn cho rằng, dù cuộc chiến bất tận với bọn khủng bố có nặng nề đến mấy, thì mối e ngại thực sự cho nước Mỹ vẫn không phải là những người Hồi giáo rậm râu, mà là “những thanh thiếu niên chưa có một cọng râu” từ các nước thuộc thế giới thứ ba.... Phát triển giáo dục trong xu hướng toàn cầu23/07/2007 09:44' PM Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều lấy giáo dục phổ thông làm nền tảng và coi giáo dục Đại học là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mình, mỗi quốc gia có thể nhấn mạnh các khía cạnh khác nhau trong chiến lược phát triển giáo dục Đại học... Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục04/06/2007 02:33' PM Chủ tịch Hồ Chí Minh là người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới, đồng thời cũng là nhà giáo. Suốt đời Bác nêu tấm gương sáng ngời về người thầy được toàn dân tộc và cả loài người tiến bộ noi theo. Tự chủ - chìa khóa cất cánh cho giáo dục11/04/2007 07:48' PM Sự bất cập của nguồn nhân lực bắt đầu bằng sự bất cập của ngành giáo dục. Sự bất cập của giáo dục chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa và chính trị. Vậy cải cách nền giáo dục thế nào? Bắt đầu từ đâu? Đâu là mục tiêu của cuộc cải cách? Có giáo dục mà vẫn đáng ghét16/03/2010 11:25' AM Có những tài liệu in đã lâu, nhưng tính thời sự và đúng đắn của chúng vẫn còn thích hợp với ngày hôm nay. Nếu chúng ta đọc được, và đưa ra cho mọi người cùng đọc (thay vì giữ riêng làm tài liệu), thì đó là một cách tiết kiệm chất xám, của người đi trước, cho người đi sau... Văn hóa cảm ơn22/12/2009 03:28' PM Truyền thống mang đậm nét văn hóa và đặc điểm tâm lý của người phương Đông, văn hóa cảm ơn được người Việt chú trọng thể hiện bằng những hành động cụ thể. Trẻ em Việt Nam thành “người nước ngoài”?04/12/2009 05:10' PM Trang bị cho con em những kỹ năng để hội nhập với thế giới đang là mục tiêu của không ít phụ huynh. Thế nhưng có mấy phụ huynh quan tâm đến việc con có được học tiếng Việt, lịch sử, địa lý, đạo đức VN khi vào trường quốc tế? Những lời tâm huyết cho Giáo dục của Giáo sư Nguyễn Lân Dũng20/11/2009 08:50' PM Hơn 50 năm dạy học, từng có nhiều ý kiến tâm huyết với ngành giáo dục nước nhà, GS - TS Nguyễn Lân Dũng dành cho TT&VH Cuối tuần cuộc trò chuyện cởi mở tại nhà riêng dù ông đang trong thời gian tham dự Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XII... Những người “truyền lửa”18/11/2009 09:46' AM Từ bao đời nay và ở xã hội nào cũng vậy nhà giáo luôn là người chuyển tải tri thức của nhân loại đến các thế hệ trẻ thông qua công việc hàng ngày là dạy dỗ học trò. Nhờ đó, xã hội loài người tồn tại và không ngừng phát triển. Chính vị trí quan trọng của nghề dạy học trong xã hội đã tạo nên sứ mệnh thiêng liêng của người. Nền giáo dục Thụy Điển tiên tiến nhất thế giới hiện nay?20/10/2009 02:22' PM Công trình "Nền giáo dục Thụy Điển tiên tiến nhất thế giới hiện nay" là một chuyên luận công phu, bổ ích và sâu sắc, rất cần cho việc hoạch định chiến lược giáo dục của Việt Nam. Việt Nam ở đâu trên bản đồ giáo dục thế giới?04/07/2009 03:21' PM Từ hơn một trăm năm nay, vấn đề làm đau đầu các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế là làm thế nào để một nước nghèo đuổi kịp nước giàu về trình độ phát triển, trước hết là về thu nhập bình quân đầu người. Bài khác: Giáo sư không phải "giá trị quốc gia"01/01/1900 12:00' AM GS, PGS là 1 nhiệm vụ ở cơ sở ĐH cụ thể, chứ đâu phải "giá trị quốc gia" đến mức phải để Bộ trưởng GD-ĐT bổ nhiệm?". GS Hoàng Tụy thất vọng khi cầm trên tay bản quy định mới
về tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm GS, PGS ban hành ngày 31/12/2008.
Trao đổi với VietNamNet, ông cho rằng đây là "cải tiến nửa vời, có
nhiều điều không hợp lý, không hiệu quả". Nghĩ về việc học01/01/1900 12:00' AM Đầu năm 2006, một người Mỹ nói thẳng là thanh niên Việt Nam không có nhu cầu hiểu biết mà chỉ lo học lấy bằng để kiếm sống. Thoạt nghe tôi cũng bị sốc. Một xã hội mà lớp trẻ chỉ lo kiếm sống và không có nhu cầu hiểu biết thì xã hội đó phát triển làm sao được! Học chỉ cốt lấy điểm cao01/01/1900 12:00' AM Thách thức của giáo dục là thách thức của phát triển. Kinh nghiệm thành công trong mở cửa để phát triển của các nước đi trước đã khẳng định điều này. Việt nam là dân tộc có truyền thống hiếu học Quan niệm giáo dục “Tự Tân” của Phan Bội Châu29/11/2005 09:52' AM Những từ tưởng và hoạt động giáo dục của cụ Phan Bộ Châui suy ngẫm về các vấn đề canh tân văn hóa giáo dục, canh tân xã hội đáng để chúng ta quan tâm đến... Văn hiến… xưa và nay & văn hiến trong tương lai23/11/2005 08:30' AM Bàn về văn hiến... xưa và nay nên dành một phần thời gian cho sự thảo luận để hình dung văn hiến trong tương lai. Riêng trong ngành giáo dục, điểm qua những nhân tài xưa và nay tôi thấy hào quang của quá khứ và hiện tại nhưng chưa thấy tương lai. Mười vấn đề lớn của giáo dục21/11/2005 12:58' PM Một xê-mi-na độc lập về cải cách giáo dục, do giáo sư Hoàng Tụy đề xướng và chủ trì, được nhiều nhà khoa học và văn hoá trong ngoài nước tham gia thảo luận về các nội dung: Đánh giá thực trạng giáo dục, nêu những vấn đề giáo dục lớn hiện nay cần giải quyết và đề xuất các phương hướng chính chấn hưng giáo dục... Ông thầy và thời đại19/11/2005 02:27' PM Một trong những nguyên tắc giáo dục đại học ở Singapore là người thầy phải luôn cập nhật và giúp SV nắm bắt những thông tin thời sự mới nhất của lĩnh vực tin mình phụ trách... |