Ý thức đạo đức phản ánh lĩnh vực nào của đời sống xã hội

07:37 SA @ Thứ Sáu - 18 Tháng Mười Một, 2005

Trong những năm gần đây, vấn đề đạo đức với tư cách là đối tượng nghiên cứu của đạo đức học đã được bàn đến trên nhiều công trình bài viết chuyên khảo cúng như từ nhiều chuyên ngành liên quan. Mặc dù vậy không ít các vấn đề lý luận của đạo đức, trong đó có những vấn đề hết sức cơ bản vẫn tồn đọng và chưa được quan tâm giải quyết. Một trong những vấn đề như vậy là việc xác định cơ sở tồn tại của đạo đức - làm rõ yếu tố quy định bản chất đặc thù của đạo đức với tư cách một hình thái ý thức xã hội.

Như ta biết, nghiên cứu đạo đức ở bất cứ phương diện nào đều phải trả lời câu hỏi: cái gì quy định nội dung cơ bản của đạo đức, hay nói khác đi với tư cách một hình thái ý thức, đạo đức phản ánh lĩnh vực nào của tồn tại xã hội? Giải đáp vấn đề này không chỉ liên quan đến việc làm rõ nguồn gốc bản chất của đạo đức, lý thuyết về qúa trình phát sinh, phát triển của đạo đức mà đây là cơ sở để xác đinh những nội dung và phương hướng thích hợp trong xây dựng và giáo dục đạo đức hiện thực.

Trong quá trình khảo sát đạo đức, quan điểm phổ biến được vận dụng để lý giải vấn đề này là gắn liền sự hình thành và phát triển của đạo đức với tính chế định của các điều kiện lịch sử , xã hội, các quan hệ kinh tế. Quan điểm này thường được nêu lên như sau: "Muốn tìm một hiện tượng đạo đức không thể dừng lại ở chỗ giải thích nội dung khái niệm của nó mà phải đi sâu tìm hiểu nguồn gốc xã hội, đặc điểm kinh tế, cơ sở giai cấp, nghĩa là tìm hiểu tồn tại xã hội đã đẻ ra hiện tượng đạo đức ấy" (l) hoặc "khi nói đạo đức mới xuất hiện cùng với sự xuất hiện của phương thức sản xuất mới, phương thức sản xuất XHCN thì cũng có nghĩa là phương hướng nghiên cứu những vấn đề đạo đức của xã hội nói chung cũng như những vấn đề đạo đức của thời kỳ quá độ nói riêng là phải tìm trong nền tảng kinh tế xã hội" (2). Có thể nói việc xác đinh phương hướng nghiên cứu đạo đức xuất phát từ các điều kiện lịch sử xã hội, đặc biệt là từ các quan hệ kinh tế là một hướng nghiên cứu đúng đắn. Đó cũng là sự thể hiện cụ thể quan niệm duy vật về lịch sử trong nghiên cứu đạo đức và cho phép lý giải các vấn đề của đạo đức ở khía cạnh bản chất nhất. Sẽ không thể làm rõ các vần đề cơ bản của đạo đức nếu tách rời các quan hệ kinh tế đó của nó. Hơn nữa khi nghiên cứu đạo đức từ các quan hệ kinh tế chủng ta đều biết rằng việc nêu lên quan điểm trên cũng không phải là sự xác đinh tùy tiện, chúng có tiền đề lý luận trực tiếp từ một luận điểm quan trọng của Engen. Trong tác phẩm "Chống Đuyrinh", khi phê phán những nguyên tắc đạo đức vĩnh cửu, tồn tại bên ngoài loài người và giai cấp của Đuyrinh, Engen viết:

"… Con người ta, dù tự giác hay không tự giác rốt cuộc đều rút những quan niệm đạo đức của mình ra từ những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là từ những quan hệ kinh tế trong đó người ta sản xuất và trao đổi". (3) Engen nhấn mạnh: “ Chúng ta khẳng định rằng chung quy lại thì mọi thuyết đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ…” (4). Điều đó chi có nghĩa khảo sát đạo đức dưới tác động của các quan hệ kinh tế là một hướng tiếp cận cơ bản và hết sức quan trọng trong nghiên cứu đạo đức.

Nhưng như chúng ta biết, đạo đức nếu chỉ được khảo sát từ các quan hệ kinh tế thị trường không thể xác định đầy đủ được. Nói khác đi phải chăng bản thân các quan hệ kinh tế trực tiếp quy định nội dung và đặc trưng riêng biệt của đạo đức? Nếu đúng là các quan hệ kinh tế là cơ sở duy nhất để nghiên cứu đạo đức thì sẽ có ba vấn đề sau đây không thể giải đáp được.

Thứ nhất, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, không chỉ đạo đức, mà tất cả các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, pháp luật... đều chịu sự quy định của các quan hệ kinh tế. Các quan hệ kinh tế quy định tất cả các hình thái ý thức xã hội chứ không riêng đạo đức, do đó sẽ không thể giải thích được đặc trưng riêngbiệt của đạo đức - một trong những hình thái của nó.

Thứ hai, khi nêu lên luận điểm này ngay Engen cũng không đặt tính quy định của các quan hệ kinh tế đối với đạo đức như một nguyên nhân trực tiếp, duy nhất mà chỉ xét nó trong nghĩa "rốt cuộc", “xét đến cùng".

Thứ ba, lý thuyết về các hình thái ý thức xã hội chỉ ra rằng, nếu ý thức xã hội là một hệ thống các yếu tố khác nhau về chất thì nguyên nhân của tính đa dạng của các hình thái ý thức là do tính đa dạng của đối tượng mà ý thức nó phản ánh. Điều đó có nghĩa, mỗi hình thái ý thức ngoài tính chế định chung của tồn tại đều có một đối tượng riêng biệt của mình và đặc trưng riêng biệt của mỗi hình thái ý thức được quy đinh bởi đặc trưng riêng biệt của đối tượng mà nó phản ánh. Như vậy nghiên cứu đạo đức nếu chỉ xuất phát từ các quan hệ kinh tế sẽ không thể làm sáng tỏ bản chất và đặc trưng của chúng. Vấn đề quan trọng đặt ra ở đây chính là phải làm rõ đối tượng mà đạo đức phản ánh, nghĩa là làm rỡ “tồn tại riêng biệt", cái trực tiếp quy định đặc trưng riêng biệt của đạo đức, chứ không phải chỉ xác định một tồn tại nói chung. Chính từ những tiền đề đặt ra nêu trên chúng tôi cho rằng làm rõ các vấn đề của đạo đức, không thể chỉ xuất phát từ những điều kiện và tác động chung mà còn phải chỉ ra những nguyên nhân và những tác động riêng, đặc biệt là cần chỉ ra và xác định đúng đối tượng riêng biệt, trực tiếp của đạo đức.

Cần nói rằng vấn đề tồn tại riêng biệt của đạo đức cũng không phải là vấn đề mới. Từ lâu, gắn liền với việc khảo sát đặc trưng riêng biệt của đạo đức, nó đã được nhiều nhà nghiên cứu mácxít cũng như giới nghiên cứu ngoài mácxít quan tâm. Các nhà triết học thời khai sáng ở phương Tây đã bàn rất nhiều về vấn đề này. Tuy nhiên trong giới nghiên cứu mácxít tính cấp bách của vấn đề chỉ thực là sự nổi lên khi thực tiễn xây dựng CNXH đặt ra những tình huống mà trong đó việc lý giải các vấn đề đạo đức từ một nền tảng kinh tế nói chung đã không thể giải đáp. Nguyên nhân cơ bản của tình huống này gắn liền với sự suy thoái và đổ vỡ của ý thức đạo đức xã hội trong quá trình xây dựng nền sản xuất công hữu.

Như ta đã biết, khi nói ý thức đạo đức là sự phản ánh của các quan hệ kinh tế thì nguyên tắc ý thức đạo đức XHCN phải được hình thành và phát triển cùng với qúa trinh hình thành và phát triển các quan hệ kinh tế XHCN, nghĩa là qú trình xác lập chế độ cống hữu về tư liệu sản xuất. Nhưng trên thực tế không chỉ ở những nước có điều kiện và hoàn cảnh đặc thù với nhiều biến động phức tạp trong quá trinh đi lên CNXH như nước ta mà ngay ở những nước có điều kiện thuận lợi hơn nguyên tắc ấy vẫn không diễn ra trong hiện thực. Việc xây dựng ý thức đạo đức mới không những không dễ dàng thực hiện ngay những kết quả ban đầu đạt được của nó cũng liên tục bị sói mòn và biến dạng dữ dội từ dưới nhiều hình thức. Khảo sát thực tế qúa trình xây dựng ý thức đạo đức mới ở Liên Xô. Trước đây nhà đạo đức học Xô viết P.R.Apecian đã chỉ ra một nghịch lý sâu sắc sau: “Nếu các quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu công cộng về tư hậu sản xuất mà chúng ta xây dựng trong hơn 70 năm qua là quan hệ sản xuất XHCN thì các quan hệ đó đã không tạo ra trong xã hội một cuộc sống tinh thần đạo đức tương ứng, nghĩa là không tạo ra cơ sở để hình thành những quan hệ đạo đức nhân đạo và tốt đẹp giữa người và người"(5). Thậm chí nghiên cứu trạng thái ý thức đạo đức của con người trong các tập thể lao động trong những năm gần đây các tác giả N.N. Crutov và O N.Crutova còn cho thấy một thực tế: ở đâu tính chất công hữu trong các quan hệ sản xuất càng cao thì ở đó tính chất XHCN trong các quan hệ đạo đức của con người càng thấp. Đó là thái độ thờ ơ đối với công việc, sự ghẻ lạnh trong quan hệ giữa người này với người khác, với tập thể..." (6).

Vì sao giữa các quan hệ kinh tế và ý thức đạo đức của con người trong CNXH lại xuất hiện nghịch lý trên? Vì sao từ địa vị của người làm thuê bước lên vi trí của người làm chủ, con người không "khẳng định mình mà lại phủ định mình"? Thực tế cho thấy vấn đề này cũng như nhiều vấn đề khác từng nảy sinh trong quá trình xây dựng CNXH trước đây sẽ không được lý giải sáng tỏ nếu không bàn đến một yếu tố then chốt trong cơ chế tác động của các quan hệ xã hội.

Nói đúng hơn chính thông qua việc lý giải các mâu thuẫn gay gắt đang diễn ra trong quá trình xây dựng xã hội mới đã cho phép làm sáng tỏ một vấn đề mà theo Engen đó cũng là một chân lý giản dị và sáng tỏ nhưng vốn bị "một đống tư tưởng che kín mất" vấn đề các lợi ích và việc thỏa mãn các lợi ích của con người. Trên bình diện đạo đức việc lý giải vấn đề cũng không nằm ngoài thực tế đó. Nói khác đi chính từ việc khảo sát các mâu thuẫn xã hội hiện thực người ta dần dần nhận ra rằng: cái trực tiếp quy định bản chất và đặc trưng riêng biệt của đạo đức không phải là các quan hệ kinh tế nói chung mà là những quan hệ xác định. Những quan hệ này mặc dù không nằm ngoài mối liên hệ với các quan hệ kinh tế, song chúng có vị trí và cơ chế tác động độc lập và không đồng nhất với các quan hệ kinh tế, đó là lợi ích. Trong nền sản xuất dựa trên chế độ công hữu chính do không thực hiện đúng đắn và đầy đủ các quan hệ lợi ích cho nên đã không tránh khỏi tiêu cực dẫn đến sự xói mòn và suy thoái của ý thức đạo đức xã hội.

Qủa là nghiên cứu đạo đức không thể không bàn đến yếu tố lợi ích, điều mà Engen khi dẫn lại lời của các nhà khai sáng Pháp đã viết: “Lợi ích hiểu một cách đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức". Về nguyên tắc đạo đức bao giờ cũng là hình thức phản ánh của các quan hệ kinh tế và chịu sự quy định của các quan hệ kinh tế, hay nói đúng hơn đó là sự quy đinh của các điều lịch sử xã hội và của các quy luật của sự phát triển xã hội. Nhưng tính quy đinh của các điều kiện và các quy luật của sự phát triển xã hội không tác động đến đạo đức một cách trực tiếp mà chỉ biểu hiện và bộc lộ thông qua các mắt khâu trung gian. Có nghĩa sự tác động nêu trên chỉ được thực hiện chừng nào các mắt khâu trung gian được phát huy và sử dụng, ngược lại thiếu sự chuyển tiếp của các mắt khâu trung gian, sự tác động trên sẽ không còn ý nghĩa. Khảo sát đạo đức dưới tác động của các lợi ích chính là nhằm làm rõ vai trò của các tác động trực tiếp ấy. Hơn nữa khảo sát các tác động xã hội dẫn đến sự hình thành đạo đức thông qua các mắt khâu trung gian cán thấy rằng, tính quy định của các điều kiện và các quan hệ kinh tế đốt với lợi ích không phải là mối liên hệ một chiều, đơn trị. Nói khác đi không phải trong hệ thống quan hệ kinh tế nào cũng đều sinh ra những lợi ích tương ứng với nó và do vậy làm xuất hiện những ý thức đạo đức phù hợp. Do tác động của nhiều yếu tố xã hội khác nhau, mối liên hệ trên luôn là một biến thể phức tạp. Nó có thể là sự thể hiện chân thực và đầy đủ nội dung của các quan hệ kinh tế, nhưng cũng có thể chỉ là những phản ánh phiến diện, hư ảo của các quan hệ trên. Chẳng hạn không thể giản đơn cho rằng, trong nền sản xuất dựa trên chế độ công hữu, con người bao giờ cũng có thể được quan tâm và thỏa mãn đầy đủ các lợi ích của mình, và ngược lại trong các nền sản xuất dựa trên chế độ tư hữu sự quan tâm ấy sẽ không thể diễn ra. Thật ra ở bất cứ nền sản xuất nào việc thỏa mãn các lợi ích không chỉ đặt ra ở chế độ sở hữu, chế độ kinh tế, đó là những vấn đề của chế độ chính trị, xã hội và việc thực hiện các chế độ ấy... Đặc biệt, một trong những vấn đề trung tâm của mối quan hệ này là việc xác định vị trí của con người trong nền sản xuất xã hội, quyền được hoàn thiện của con người được biểu hiện bằng việc thỏa mãn chính các nhu cầu và lợi ích của họ. Thực tế cho thấy ở bất cứ đâu, một khi vị trí của con người trong xã hội bị coi rẻ, con người bị biến thành phương tiện cho các mục đích khác nhau, dù đó là phương tiện để phát triển xã hội, quyền của con người bị vi phạm, thi dù đó là nền sản xuất dựa trên chế độ công hữu đi nữa, sự quan tâm trên cũng không thể được thực hiện. Bởi vậy để xây dựng và phát triển đạo đức cùng với việc xác lập các quan hệ kinh tế phù hợp, việc thỏa mãn các nhu cầu và lợi ích của con người luôn là một đòi hỏi có tính nguyên tắc đặt ra trong xây dựng và phát triển của một xã hội.

Như vậy nếu quả là sự hình thành và phát triển của đạo đức luôn gắn liền với các quan hệ lợi ích và “đạo đức có thể chỉ được xác định đầy đủ khi đặt nó trong mối quan hệ với các nhu cầu và lợi ích" (7) thì việc nghiên cứu đạo đức từ các lợi ích là một hướng tiếp cận đáng lưu ý, đồng thời đó cũng là một vấn đề lý luận có ý nghĩa thực tiễn cấp bách. Nghiên cứu đạo đức từ các lợi ích chính là cho phép làm sáng tỏ các vấn đề then chốt đang đặt ra trong nghiên cứu đạo đức học hiện nay: vấn đề về cơ sở phản ánh, về chức năng và ý nghĩa lịch sử của sự tồn tại của đạo đức. Đặc biệt, một trong những vấn đề có nghĩa phương pháp luận quan trọng trong hướng tiếp cận trên là làm rõ dây chuyền tác động xã hội dần đến sự hình thành và phát triển của đạo đức trong cuộc sống hiện thực. Trước đây khi nghiên cứu đạo đức từ các quan hệ kinh tế không phải chúng ta không nhìn thấy vai trò của các quan hệ kinh tế trong ý nghĩa “xét đến cùng" của nó. Nhưng để làm rõ dây chuyền tác động xã hội bằng việc xác định và chỉ ra các yếu tố trung gian, trực tiếp trong chính dây chuyền ấy, chúng ta thường chỉ mới quan tâm đến các tác động cùng lớp: các yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc như chính trị, pháp luật, nghệ thuật, tôn giáo… Đương nhiên nghiên cứu đạo đức không thể không bàn đến vai trò tác động của các yếu tố trong cùng thượng tầng kiến trúc cũng như các tác động xã hội khác đối với đạo đức và các mối quan hệ đan xen giữa chúng. Với tư cách là một hình thái ý thức, đạo đức không là kết quả riêng biệt của bất kỳ một tác động nào. Tính phức tạp và thống nhất của hiện tượng cũng như biện chứng của sự phát triển của nó luôn đặt ra và gắn liền với chính các tác động đa tầng và đa hướng đó. Nhưng vấn đề đặt ra là: vậy thì phải chăng trong sự hình thành và phát triển của đạo đức, các yếu tố và đã tác động xã hội khác nhau đều mang vai trò và ý nghĩa như nhau? Về thực chất chúng bao gồm những yếu tố nào? Về vấn đề này theo chúng tôi sự nhận định của các tác giả Xô viết trong công trình “Đạo đức học macxit" là tương đối hợp lý (8).

Sự hình thành và phát triển của đạo đức trong công trình này được xác định gắn liền với các yếu tố sau:

Một, hướng vận động của các lợi ích hiện có trong xã hội.

Hai, hệ thống các giá trị đạo đức đang tác động

Ba, sự thay đổi các tình huống của sự lựa chọn đạo đức (chẳng hạn sự thay đổi các chuẩn mực trong cách mạng khoa học kỹ thuật).

Bốn, sự tác động của các phương tiện điều chỉnh xã hội khác (quy định của pháp luật, các thiết chế hành chính...).

Năm, điều kiện giao tiếp, dư luận xã hội, kinh nghiệm đạo đức cá nhân;

Sáu, trạng thái tâm lý xã hội.

Bảy, sự tác động của các yếu tố trong lĩnh vực văn hóa tinh thần: khoa học, nghệ thuật, tôn giáo…

Và xét đến cùng đó là tự quy định của các điều kiện kinh tế, xã hội.

Trong hệ thống các yếu tố kể trên. Sự tác động của các lợi ích được coi là một trong những yếu tố có vai trò trực tiếp và gần gũi nhất trong việc tạo ra các định hướng đạo đức ở con người.

Có thể nói, việc làm rõ các tác động đa dạng trong xã hội đối với sự hình thành đạo đức và xác định vai trò riêng biệt của mỗi tác động đó là đòi hỏi không thể thiếu trong xây dựng đạo đức hiện nay.



(1) C.Mác, F.Engen, V.I Lênin. Bàn về đạo đức. UB khoa học xã hội Việt Nam - Viện triết học, Hà Nội, 1972, tr.24.

(2) Mấy vấn đề đạo đức và thầm mỹ trong thời kỳ quá độ. Viện triết học Hà Nội, 1983, tr. 21.

(3) C.Mác, F.Engen, Tuyển tập gồm 6 tập. Tập 5, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983, tr. 135.

(4) F.Engen Chống Đuyrinh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr. 162.

(6) P.R.Apecian. Đạo đức và chức năng xã hội cơ bản của nó. Nxb khoa học. Mockva 1988, tr. 64.

(6) Xem N.N. Crutov, O.N. Crutova. Con người giữa những con người. Nxb Kiến thức. Mockva, 1989.

(7) Đạo đức: ý thức và hành vi, Nxb Khoa học Mockva 1986, tr.11.

(8) Đạo đức học macxit, Nxb Chính trị, M, 1986, tr. 34.
Nguồn:
Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Từ Hệ tư tưởng đến Hệ giá trị

    09/06/2018Nguyễn Trần BạtGiá trị của các hệ tư tưởng chỉ có tính chất tương đối, mang tính lịch sử. Tư tưởng và hệ tư tưởng không phải là những giá trị bất biến, càng không phải là những tín điều để tôn thờ, nó đang và sẽ bị thay thế bởi hệ giá trị, là một hệ thống các tiêu chuẩn để quy định, định hướng và tổ chức hành vi của con người trên phạm vi toàn cầu...
  • Các giá trị Đạo đức

    21/05/2018Nguyễn Trần BạtVai trò định hướng cho các ứng xử của con người và cộng đồng người thuộc về đạo đức, mà cái gốc của nó là cái thiện, một trong ba giá trị phổ quát nhất trong đời sống tinh thần của nhân loại: chân, thiện, mỹ...
  • Đạo đức trong kinh doanh

    02/04/2018Mai Thái BìnhTheo mạng Washington Profile, ngay ở trong xã hội tư bản, những bộ phận lành mạnh của giới doanh nhân cũng cố gắng thiết lập những tiêu chí đạo đức cho các hoạt động thương mại của mình.
  • Ai chịu trách nhiệm cho sự bền vững của cá nhân?

    13/02/2016Một khía cạnh nữa của phát triển bền vững thấy được phân tích thấu đáo. Đó là sự phát triển bền vững của mỗi cá nhân trong xã hội, của mỗi công dân trong một quốc gia. Tác giả Stephen Covey đã tổng kết, để bền vững mỗi cá nhân phải biết chăm lo cho 4 nhu cầu hay phương diện sống: thể lý, xã hội, trí não và tinh thần...
  • Lịch sử phát triển chủ nghĩa cá nhân trong thế kỷ 21

    03/11/2015Nguyễn Hào Hải, Trưởng phòng Triết học Pháp, Viện Triết học...sự bùng phát mạnh mẽ của chủ nghĩa cá nhân trong thời đại ánh sáng chủ yếu vẫn nằm ở khuôn khổ của cuộc cách mạng tư tưởng. Nói rõ hơn, nó vẫn nằm ở mặt lý luận hơn là đã thực hiện trong đời sống hiện thực, nghĩa là vẫn nằm trong giai đoạn trừu tượng, trong sự sôi nổi, sự cuồng nhiệt chủ yếu diễn ra ở khâu lý luận, học thuật của các triết gia kiệt xuất phương Tây....
  • Ý nghĩa của tự do

    04/12/2013Dr. Mortimer J. AdlerTrước khi tôi thử trình bày những gì làm cho ý niệm tự do có ý nghĩa sâu xa trong đời sống con người, hãy cho tôi thử truyền đạt một số cảm tưởng về phạm vi của ý niệm này. Trong lịch sử tư tưởng phương Tây, tự do có một số ý nghĩa rõ rệt. Tôi sẽ cố trình bày những ý nghĩa này cho bạn một cách ngắn gọn nhất. ...
  • Càng giàu, càng thích hưởng thụ! Nhưng hạnh phúc thì...?

    20/08/2013Minh ThiKhi xã hội phát triển, ngày càng nhiều người áp dụng lối sống hưởng thụ cho chính mình. Thực ra, hưởng thụ là một điều tốt, nó là thước đo đời sống của con người và xã hội hiện đại. Vấn đề đặt ra chỉ là cách hưởng thụ như thế nào mà thôi, bởi đôi khi cách thức hưởng thụ lại có thể khiến con người bất mãn thêm và thế giới trở nên kiệt quệ...
  • Tư cách và đạo đức cách mạng

    14/01/2011X.Y.Z

    1 Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.
    2. Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng, và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau.

  • Mối quan hệ giữa Văn hoá và đạo đức

    06/11/2005Lê Đức PhúcKhi xem xét sự phát triển của con người nói chung và phát triển đạo đức nói riêng, các nhà khoa học liên ngành luôn chú ý đến mối quan hệ giữa sự phát triển đó với văn hoá...
  • Tiêu chí kiểm định đạo đức con người qua tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam

    02/11/2005Lê Huy ThựcTục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam là kết quả lao động sáng tạo, thể hiện những tài triết lý sâu sắc được đúc rút từ thực tiễn của cha ông ta. Chúng ta thấy trong đó chứa đựng nhiều việc cụ thể, hoặc nhận thức cảm tính và suy luận… Mặc dù vậy, tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam cũng thừa nhận rằng, việc kiểm định đạo đức con người không phải là dễ dàng, đơn giản; song không phải vì thế mà ý nghĩa của tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam giảm đi, mà trái lại, càng nói lên giá trị hiện thực của loại hình văn học độc đáo này...
  • Đạo đức học Cantơ và tư tưởng văn hóa hòa bình

    29/10/2005Vũ Thị Thu LanĐạo đức học Cantơ chứa đựng những luận điểm có giá trị tiền đề cho tư tưởng văn hoá hoà bình mà nhân loại hiện đang hướng tới. Ông đã làm nổi bật tính nhân văn khi xác định "loài người như một" là đối tượng của đạo đức học và con người phải tuân thủ quy tắc ứng xử chung - "mệnh lệnh tuyệt đối". Ông còn đưa ra nguyên tắc về phẩm giá tuyệt đối của cá nhân, đề cao giá trị con người, coi con người là mục đích của đạo đức và góp phần thức tỉnh sự tự ý thức của con người. Đạo đức học Cantơ kêu gọi nhân loại hướng đến những giá trị đạo đức chung, hướng tới nền hoà bình vĩnh cửu. Sự công hiến to lớn đó, ông đã trở thành người đặt nền móng cho nền văn hoá hoà bình - văn hoá của hiện tại và tương lai...
  • Xây dựng hệ tiêu chuẩn văn hoá chính trị toàn cầu

    22/10/2005Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch / Tổng giám đốc, InvestConsultToàn cầu hoá là một quá trình tương tác trên quy mô toàn cầu của các loại hình hoạt động xã hội trong đó có loại hình hoạt động chính trị. Thể hiện cơ bản nhất của toàn cầu hoá là sự hợp tác toàn cầu. Xây dựng nền văn hoá chính trị có quy mô toàn cầu chính là xây dựng hệ ngôn ngữ chính trị để tất cả những người đại diện trên thế giới này có thể đối thoại, và cũng chính là loại bỏ những mặt dị biệt thái quá đồng thời thời tìm kiếm những mặt chung nhất liên quan đến lợi ích toàn cầu làm xuất phát điểm cho những cuộc đối thoại đó.
  • Để chống lại sự "hạ cấp và phàm tục" trong đời sống văn hóa

    17/08/2005Tương LaiKhi đòi hỏi cần tạo cho được thật nhiều “mô hình thuyết phục”, những mô hình về đạo đức và văn hóa (*), tôi muốn nói thêm về “trách nhiệm nắm chắc các chuẩn mực văn hóa và điều chỉnh nó trong đời sống xã hội bằng các mô hình thuyết phục”...
  • Biện chứng của tự do

    21/07/2005Nguyễn Trần BạtTự do không phải là thuật ngữ xa lạ, càng không phải một phát hiện bởi nó gắn liền với con người như một công cụ để tồn tại, để sống và để phát triển. Tuy nhiên, đối với con người, tự do vẫn phần nào bí ẩn; chúng ta, dường như, chưa nhận thức trọn vẹn về nó, càng chưa biết khai thác và sử dụng nó như một công nghệ phát triển...
  • Mục đích của cuộc sống

    04/08/2005Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc truy vấn mục đích của câu hỏi về mục đích của cuộc sống. Trong đầu con người nghĩ gì khi họ hỏi câu hỏi này. Việc hỏi nó là một hiện tượng đặc biệt con người. Những sinh vật khác chỉ tồn tại và cứ tiếp tục đuổi theo những mục đích tự nhiên của chúng một cách mù quáng – tiếp tục là một cái cây hay một con chim hay một tảng đá. ...
  • Xung đột giữa lý trí và tình cảm

    24/08/2005Cảm xúc, như từ ngữ cho thấy, làm lay động chúng ta. Sợ hãi, giận dữ, yêu thương, và vui vẻ gây xáo trộn chúng ta từ bên trong và thường khiến chúng ta hành động hướng ra bên ngoài. Sự mãnh liệt, kích thích, và xung lực dẫn tới hành động này tương phản sâu sắc với sự vô tư, cân bằng, và điềm tĩnh gắn với lý trí. Các tác gia vĩ đại trong truyền thống của chúng ta bàn về sự tương phản này và đề xuất những lý thuyết khác nhau về các vai trò đích xác của lý trí và tình cảm trong đời sống con người. ...
  • Quan điểm maxit về mối quan hệ Đạo đức - Chính trị - Pháp quyền

    07/07/2005Đỗ Hữu Nhân (Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh - Hưng Yên)Việc nghiên cứu đạo đức, dù từ bất kỳ phương tiện nào, cũng đều phải trả lời câu hỏi: Cái gì quy định nội dung cơ bản của đạo đức? Và với tư cách một hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh lĩnh vực nào của tồn tại xã hội? Về điều này, C. Mác và Ph. Ăng-ghen cho rằng, tìm hiểu hiện tượng đạo đức không thể chỉ dừng lại ở chỗ giải thích nội dung khái niệm của nó, mà còn phải đi sâu, tìm hiểu nguồn gốc xã hội, đặc điểm kinh tế, cơ sở giai cấp, nghĩa là tìm hiểu tồn tại xã hội đẻ ra hiện tượng đạo đức ấy.
  • Ở đâu, đạo đức và lương tâm của giới trẻ?

    07/07/2005Tuyết Thanh, Viện Văn họcTôi thấy có một mặt của thanh niên đang tụt hậu, có thể dùng khái niệm suy thoái. Nghĩa là các thế hệ ông cha đã từng có rồi mà thanh niên ngày nay (một bộ phận lớn) đang làm mất đi, suy yếu đi. Đó là đạo đức và lương tâm nghề nghiệp.
  • xem toàn bộ