Mô hình cổ điển về văn hóa trong quan niệm của các nhà triết học trước Mác

07:59 CH @ Thứ Tư - 11 Tháng Tư, 2007

Khôngphải ngẫu nhiên mà vào vài thập kỷ gần đây, những vấn đề triết học của văn hóa càng nhận được sự quan tâm và thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu. Điều đó được lý giải do những đòi hỏi cấp bách của cả lý luận lẫn thực tiễn cuộc sống hôm nay. Song, thực ra, ngay từ thời cận đại, một truyền thống nghiên cứu và lý giải hiện tượng văn hoá trên nền tảng của triết học đã được hình thành. Truyền thống đó đã tạo nên mô hình cổ điển của văn hoá và sự lý giải nó trong triết học trước Mác. Có thể nói, triết học văn hoá mácxít đã được nảy sinh và phát triển trong lòng của truyền thống này. Bởi thế, giờ đây, nghiên cứu truyền thống này là một việc làm cần thiết và hữu ích.

Trước tiên, chúng ta cần phải phân biệt lịch sử các quan niệm về văn hoá với lịch sử của chính văn hoá. Bởi lẽ, dù cho những mầm mống của văn hoá đã được phát hiện ra ở những giai đoạn đầu tiên nhất của tồn tại người, nhưng không phải ngay lập tức chúng đã nhận được sự phán ánh trong ý thức con người. Ý thức con người có khả năng ấy chỉ ở giai đoạn phát triển cao của văn hoá nhân loại. Phần lớn các nhà ngôn ngữ học đều cho rằng, "văn hoá" chỉ trở thành một khái niệm độc lập vào thế kỷ XVIII. Đó là lúc sự phát triển của xã hội đãcho thấy sức mạnh hoạt động con người, cho thấy con người cókhả năng cải tạo thế giới, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản than mình ra sao. Sự thấu hiểu những khả năng thực sự đó của con người đã dẫn đến sự hình thành một khái niệm mới nhằm thể hiện những phương thức và kết quả hoạt động của con người - khái niệm văn hoá.Việc con người ý thức được vai trò tự chủ của mình trong thế giới hiện thực, ý thức được tính tích cực vốn có ở mình để không chịu nằm trong vòng phong tỏa của những lực lượng tự nhiên hay thần thánh đã được thể hiện rõ trong khái niệm "văn hoá". Đặt nền móng cho sụ hình thành một khái niệm "văn hoá" như thế trước tiên phải kể đến những nhà hoạt động xuất sắc của thời đại Phục hưng.

Bằng sự quan tâm tới di sản của thời Cổ đại, các nhà tư tưởng thời Phục hưng đãđặt cơ sở cho một nền văn hoá mới - văn hoá nhân văn,một nền văn hoá không chỉ hướng tới con người, mà còn xuất phát từ chính con người. Nền văn hoá mới ấy đã đối lập lại với nền văn hoá Trung cổ và hơn nữa, trong đời sống tinh thần, nó chống lạiquyền uy của nhà thờ, giáo hội để đòi quyền được tự do tư tưởng và sáng tạo của con người. Có thể nói, vào thời Phục hưng, người ta đã ý thức được rằng, văn hoá không phải là kết quả tác động của những lực lượng thần thánh, văn hóa là tác phẩm củacon người nhờ sự thông thái và hoạtđộng tích cựccủa con người.Có thể định hình nguyên lý cơ bản của một nền văn hoá nhân văn được con người tạo lập và kiểm soát trong một công thức ngắn gọn: “con người - kẻ sáng tạo văn hóa”

Quan niệm về con người như một nhân cách độc lập, tự do và có sức mạnh to lớn vượt ra ngoài giới hạn sinh lý của nó là một khám phá của chủ nghĩa nhân đạo và được gọi là " khám phá con người". "Khám phá con người" chính là sự ra đời của một quan điểm mới về con người.

Bằng chính sự tồn tại của mình ở trong thế giới, con người dường như đã thiết lập một biên giới nhằm tách biệt và phân cách mình với các hình thức sống còn lại. Vào thời Phục hưng, ý thức về ranh giới này vẫn còn chưa được xác định, nhưng vào những thế kỷ sau nó đã được định hình. Vào thế kỷ XVIII, sự ra đời của khái niệm "văn hoá" là một minh chứng trực tiếp cho sự giải phóng con người khỏi thế giới thần thánh và thế giới tự nhiên - sự giải phóng diễn ra một cách triệt để trong ý thức con người. Một lĩnh vực của hiện thực được chế định không phải bởi tính tất yếu tự nhiên, không phải bởi sự tiền định thần thánh, mà bởi chính hoạt động của con người như một thực thể tự do và sáng tạo đã được ghi nhận trong khái niệm "văn hoá". Thế giới văn hoá- đó là thế giới củacon người,một thế giới mà từ khởi đầu cho tận cùng, luôn thể hiện sự sáng tạo của con người. Trong văn hoá, con người được hình dung không phải như một thực thể được sáng tạo ra, mà như một thực thể đang sáng tạo, không phải như một khách thể thụ động, cam chịu sự tác động của hoàn cảnh bên ngoài, mà như một chủ thể đang thực hiện quá trình biến đổi và cải tạo hoàn cảnh.

Tuy nhiên, việc hướng đến hoạt động của con người vẫn còn chưa thật sự đầy đủ để lựa ra văn hoá như một lĩnh vực đặc thù. Con người có thể hành động do sức mạnh của tất yếu tự nhiên. Vậy thì hoạt động của con người khác biệt với những tác động của các lực lượng tự nhiên bởi cái gì? Hoạt động của con người khác với những tác động của các lực lượng tự nhiên chỉ khi sáng tạo ra thế giới riêng của mình chính là lý tính ở con người. Đó là lý tưởng nhân văn của con người với tư cách một thực thể mang lý tính để được suy tư một cách tự do. Ở đây chúng ta có thể thấy mối liên hệ trực tiếp giữa chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa duy lý của thời Cận đại.

Sự tồn tại của lý tính đã cho phép con người hành động không phải như một vật thể tự nhiên, không phải như con rối trong bàn tay của Chúa, mà như một thực thể độc lập có ý thức và ý chí của mình. Con người là một phần của tự nhiên, thuộc về tự nhiên cũng giống như những bộ phận còn lại của nó - các vật thể hữu cơ, thực vật và động vật. Tuy nhiên, khác hẳn với những vật thể và cơ thể của tự nhiên, con người có lý tính mà nhờ nó, con người được xem như không phải một bộ phận của tự nhiên mà là toàn bộ tự nhiên nói chung và nhờ nó, con người trở thành mắt khâu cao nhất của tự nhiên. Con người chiếm vị trí trung tâm trong tự nhiên không phải vì Chúa đã làm ra nó, mà nhờ hoạt động có lý trí của mình, nhờ hoạt động có mục đích. Chính con người làm cho bản thân minh trở thành mục đích của tự nhiên, còn tự nhiên thì trở thành phương tiện để con người quan hệ với bản thân mình như một mục đích. Lý tính là khả năng con người hành động không phụ thuộc vào tất yếu tự nhiên, mà hành động trongsự tương ứng với những mục đích đã được nhận thức hợp lý hành động tự do.

Cá nhà tư tưởng ở thời đại Phục hưng cũng đã đưa ra lờicảnh tỉnh rằng, sự tồn tại của con người như một cá thể biết hành động và tư duy mộtcách hợp lý cũng khó có thể phù hợp với hiện thực. Và, trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, người ta còn phát hiện ra sự không tương hợp giữa hình ảnh con người được tạo ra trong thời đại Phục hưng với con người hiện thực của thời đại mình. Cái được gọi là con người hiện thời ấy chỉ là sự bóp méo bản chất chân thực của con người đã từng tồn tại trong quá khứ. Lý tưởng hoá quá khứ được phản ánh trong sự tôn thờ "con người tự nhiên" đã làm tăng thêm sự quan tâm tới lịch sử. Lùi sâu vào lịch sử, người ta khẳng định rằng, trong quá khứ, bản tính người vẫn chưa bị những cái được coi là văn minh làmcho đồi bại. Từ đó, bắt đầu nảy sinh sự đối lập “con người tự nhiên" với "con người văn minh", một sự đối lập đã trở thành đề tài chủ yếu của các nhà triết học thế kỷ XVIII.

Sự phê phán trạng thái văn minh của các nhà Khai sáng thế kỷ XVIII đã đem lại một hình dạng mới cho vấn đề bản chất con người. Các nhà Khai sáng đã tìm kiếm câu trả lời không phải bằng con đường suy lý trừu tượng hay lý luận tư biện, mà ở lịch sử hiện thực, trong quá trình hình thành và phát triển loài người. Việc hướng tới lịch sử với mục đích phát hiện xem con người đã, đang và sẽ trở thành người như thế nào không có nghĩa là từ đây, siêu hình học và triết học tư biện bị gạt bỏ, mà chỉ hàm chứa lời kêu gọi hãy cải tạo và biến đổi chúng trên cơ sở của tư duy lịch sử. Cùng với chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa duy lý, quan điểm lịch sử trở thành một đặc trưng quan trọng của tư duy cổ điển mà thiếu nó, chúng ta không thể nào hiểu được mô hình cổ điển về văn hoá tương ứng với nó.Như vậy, cái ranh giới tách biệt con người với thế giới còn lại ranh giới văn hoákhông phải là vực thẳm, không phải là bức tường ngăn cách hoàn toàn con người với hiện thực, mà là khoảng cách lịch sử mà con người cần phải vượt quađể trở thành một thực thểnhư nó cần phải trở thành theo bản chất của mình. Cái ranh giới ấy chính là toàn bộ lịch sử nhân loại được hiểu như lịch sử của sự hình thành và phát triển của chính con người. Vậy, văn hoá vừalà con đường mà nhânloại cần phảiđi qua từ lúc nó xuất hiện, vừa là kết quả, là mục đích của chính con đường này.

Chừng nào cái ranh giới tách biệt con người với thế giới còn lại không được hình thành nhờ tự nhiên bên ngoài hay nhờ một thực thể siêu nhiên nào đó, chừng ấy cần phải tìm kiếm nguyên nhân tồn tại của con người trong chính con người. Nhờ lý tính của mình, con người đã thiết lập cho mình một ranh giới như thế, nghĩa là con người trở thành một thực thể tự quyết. Vì thế, cái ranh giới này vận động một cách lịch sử. Con người có thể ý thức về mình với tư cách con người ở mức độ này hay khác nhờ trình độ phát triển lý tính của mình. Theo nghĩa này, con người là một thực thể tự biến đổi, tự phát triển, con người vừa là chủ thể, vừa là nguyên nhân, là cội nguồn cho sự phát triển của mình. Và, văn hoálà lĩnh vựctồn tại của con người vớitư cách một chủ thể như thế.

Như vậy, trong mô hình cổ điển, khái niệm "văn hoá" không tách rời khái niệm "con người" và khái niệm "phát triển". "Văn hoá" không chỉ là cái ranh giới nhằm khu biệt con người với tự nhiên xung quanh, mà còn là cái phản ánh sự biến đổi một cách lịch sử của ranh giới này để đem lại cho con người một hình mẫu mới, một cá tính lịch sử không lặp lại. Không phải là bản chất con người được giải thích một cách tư biện, mà chính là văn hoá với tư cách cái bao trùm toàn bộ sự đa dạng lịch sử của các hình thức tồn tại và phát triển của con người đã tạo nên sự khác biệt về chất giữa thế giới con người với thế giới tự nhiên. Theo đó, có thể nói, trong triết học cận đại, nhận thức cổ điển về văn hoá đã được thể hiện trong mệnh đề: văn hoá là sự phát triển của con người như một thực thểcó lý trí.Rằng, chủ nghĩa nhân văn,chủ nghĩa duy lý và quan điểm lịch sử làba nguyên tắc kiến tạo nênmô hình cổ điển về văn hoá trong triết học cận đại.

Điều đó cho thấy, tư tưởng về sự phát triển khi được vận dụng vào đời sống con người đã đưa tới sự hình thành khái niệm "văn hoá". Nhưng, đối với con người, cái gì là nguyên nhân thôi thúc nó chuyển động lên phía trước theo con đườngy tiến bộ? Vấn đề này đã trở thành trung tâm trong tất cả những luận giải trước Mác về văn hoá. Nhìn thấy ở con người cội nguồn của sức mạnh tự do và sáng tạo, triết học cổ điển đã đặt ra cho mình nhiệm vụ phải trả lời câu hỏi: ở đâu và bằng cách nào có thể tìm thấy động lực chủ yếu của hoạt động người, cái động lực đưa sức mạnh tự do và sáng tạo vào vận động. Để trả lời câu hỏi đó, triết học cổ điển phương Tây, một mặt, hướng đến "con người tự nhiên", tìm kiếm ở nó cơ sở cho tất cả những biến đổi văn hoá sau này, mặt khác, hướng đến bản chất tinh thần với tư cách cái quy định nhiệm vụ và mục đích của con người. Từ đó, trong triết học phương Tây, sựđối lập giữa cách lý giải tự nhiên và cáchlý giải duy tâm vềmô hình cổ điển của văn hoáđã xuất hiện.V.Ph.Asơmút đã nhận xét một cách xác đáng rằng, "chừng nào quan điểm lịch sử của giai cấp tư sản còn mang trong mình nội dung khoa học thực sự có ích cho việc tiếp tục phát triển khoa học, thì quan điểm lịch sử đó xuất hiện trước hết là với tư cách quan điểm lịch sử tự nhiên". Điều đó càng được thể hiện rõ khi các nhà Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII biến quan điểm lịch sử đường như thành nguyên lý để giải thích không chỉ giới tự nhiên, mà cả đời sống con người. Trong ý thức của các nhà Khai sáng, nguyên tắc lịch sử được hình dung dưới dạng tư tưởng "về sự tiến bộkhông ngừng của tộc loại người". Lý luận tiến bộ này đã tạo ra bước ngoặt của tư tưởng ChâuÂu từ triết học tự nhiên sang triết học lịch sử. ở đây, cũng cần phải nói rằng, các nhà Khai sáng Pháp quan tâm không phải tới số phận riêng biệt của từng cá thể, mà là đời sống tập thể của dân tộc cái mà thường được họ gọi là "văn hoá dân tộc". Thật ra, khi đó, thuật ngữ "văn hoá" vẫn còn chưa xuất hiện và nó được thay thế bởi thuật ngữ "văn minh". Trong tác phẩm của các nhà Khai sáng Pháp và Anh thế kỷ XVIII, ở một mức độ nhất định, thuật ngữ "văn minh" trùng với thuật ngữ "văn hoá".

Như đã nói ở trên, cái nhìn của các nhà Khai sáng hướng vào lịch sử không phải của mỗi cá nhân riêng biệt, mà của cả một dân tộc, một xã hội và vì thế, họ thường đồng nhất dân tộc với Nhà nước, xã hội với các hình thức quyền lực chính trị. Chính vì vậy, việc họ thường sử dụng thuật nghĩ "văn minh" cũng là điều dễ hiểu. Đối với họ, sự tồn tại của Nhà nước là đấu hiệu văn minh của xã hội. Còn sử loài người thì được họ nhận thức như là bước chuyển dần trên quy mô toàn nhân loại từ dã man tới văn minh, từ "trạng thái tự nhiên” tới Nhà nước. Tuy nhiên, họ cũng nhận ra rằng, trong phần lớn các nước được gọi là văn minh, nhân dân thường phải sống được chế độ chuyên chế và do vậy, trạng thái tâm sinh lý cũng như đạo đức, tinh thần của họ phải hứng chịu những ảnh hưởng theo hướng tiêu cực. Ở đây, quyền lợi công dân đã trở thành cống vật cho quyền lực của những kẻ hữu sản, còn Nhà nước thì trái ngược với nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, đã trở thành công cụ làm giàu, trở thành nấc thang danh vọng cho một số ít người đứng trên tất cả. Một nhà nước như thế tất lâm vào tình trạng đối lập hoàn toàn với quyền lợi chân chính của côngdân. Để tạo ra mối quan hệ hài hoà về lợi ích giữa xã hội và cá nhân, giữa Nhà nước và mỗi người, nhất thiết phải tạo ra một mắt khâu trung gian có khả năng dung hòa những lợi ích ấy. Mắt khâu ấy chính là "sự hoàn thiện lý trí” của con người để con người ý thức được lợi ích xã hội bắt nguồn trực tiếp từ những đòi hỏi vốn có trong "bản chất tự nhiên" của con người. Với nhận thức này, các nhà Khai sáng cho rằng, việc phát triển lý trí của con người bằng con đường “Khai sáng" phải là trọng tâm của chương trình giáo dục con người với tư cách "một công dân của Nhà nước". Bởi theo họ, lý tính là cái làm cho con người trở thành một thực thể văn minh và hơn nữa, nhờ có lý tính mà con người có thể thoát ra khỏi những mâu thuẫn xã hội hiện tồn.

Nhưng, mục đích của lý tính là gì? Để trả lời câu hỏi này, các nhà Khai sáng đã đưa ra công thức: mục đíchcủa lý tính - hạnh phúc củacon người.Chính tự nhiên đã ban cho con người dục vọng và ham muốn mà ý nghĩa thực sự của chúng lại nằm trong sự khao khát vươn tới hạnh phúc của con người. Sự thèm khát hạnh phúc cá nhân là lẽ tự nhiên với con người, nhưng nó cũng là lẽ tự nhiên đối với bất kỳ một hiện tượng thiên nhiên nào khác và do vậy, cái gì có lợi cho tự nhiên cũng có lợi cho con người. Bởi thế mục đích của lý trí là duy thuộc đích của tự nhiên trong quan hệ của con người.

Như vậy, mô hìnhcổ điển về vănhoá (chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa duy lý, quan điểm lịch sử) trong sựlý giải của chủ nghĩatụ nhiên hoá ra là sựđồng nhất trông rỗngcủa tự nhiên với chính bản thân tự nhiên.Và qua quá trình phát triển lịch sử, con người vẫn cònở trạng thái mà tự nhiênđã tạo ranó từ thủa banđầu. Bằng cáchđó, chủ nghĩa tự nhiênđã chuyển văn hoá thành một mắt xích trong sự tiên hoá của tự nhiên vàbuộc văn hoá phải tuân theo những quy luật chungcủa nó.

Cantơ là người đầu tiên đã ý thức được rằng không thể nào kiến tạo được lý tưởng "con người lý tính" mà các nhà Khai sáng đã đưa ra từ chính những nhu cầu "tự nhiên". Trong triết học Cantơ, vấn đề bản chất đặc thù của con người đã được giảiquyết theo cách mới mà việc phân định một cách rõ ràng thế giới tự nhiên và thế giới tự do là cơ sở nền tảng. Nếu như thế giới tự nhiên phải tuân theo những tất yếu tự nhiên vốn thuộc về thẩm quyền của giác tính, thì thế giới tự do thuộc về thẩm quyền của lý tính và nó tự đặt ra những quy luật của riêng mình. Do vậy, với Cantơ, lý tính của con người chính là hoạt động của con người không phụ thuộc vào tự nhiên, nghĩa là trong sự tự do của nó.

Với quan niệm này, Cantơ đã chống lại cách giải thích lý tính chỉ đơn giản như là sự tương thích giữa hành vi của con người với tất yếu tự nhiên. Theo ông, cách lý giải như thế đã biến con người thành con rối trong bàn tay của tự nhiên. Lý tính được đem lại cho con người không chỉ như là phương tiện để đạt đến hạnh phúc và thoả mãn những nhu cầu cảm tính luôn bị chế định bởi thể xác. Bản năng là cái phục vụ tất nhất cho những mục đích này. Ý nghĩa thực sự của lý tính chính là những ảnh hưởng của nó tới ý chí, buộc ý chí phải tuân theo các quy luật đạo đức để thoát ra khỏi mọi nhu cầu cảm tính. Lý tính mang trong mình mục đích tối cao cho sự phát triển của nhân loại, một mục đích không thể chế định bởi tự nhiên bên ngoài. Sự tồn tại đạo đức của mỗi cá thể là mục đích như vậy. Do vậy, theo nhân loại cần phải được nhận thức như lịch sử tự do, cần phải được xem xét như sự vận động của toàn thể loài người tới mục đích cao cả này. Và, việc trợ giúp cho sự phát triểnđạo đức của mọi ngườiđể họ đã tới trạng tháiđạo đức là mụcđích của văn hoá.

Điều đó cho thấy, chủ nghĩa duy tâm trong triết học văn hoá của Cantơ không phải là do sự thừa nhận cơ sở đạo đức đối với sự phát triển văn hoá của nhân loại. Nhưng, nếu như các nhà Khai sáng xuất phát từ chỗ cho rằng cơ sở đạo đức trong con người không tách rời bản tính tự nhiên của nó, thì ở Cantơ, cơ sở ấy bắt nguồn từ những đòi hỏi trong bản chất lý tính của con người và nó không có gì chung với những đam mê, những khát vọng tự nhiên của con người. Giải phóng con người khỏi sự lệ thuộc vào tự nhiên, văn hoá lạibuộc con người tuântheo sự cưỡng chế của lý tính.Với quan niệm này, Cantơ cho rằng, ý nghĩa của văn hoá nằm trong việc thay thế chuyên chế tự nhiên bằng chuyênchế lý tính nhờ sự thông trị của bổn phận với tấtcả những thúcgiục cảm tính trong đời sống thường ngày.

Trong triết học Hêgen, sự giao tiếp của cá thể với "tộc loại" chỉ có khả năng tồn tại được hình thức "khái niệm", nghĩa là sự thấu hiểu "tính thực thể tinh thần của chỉnh thể" dưới hình thức lý luận - triết học. Theo đó, thuật ngữ "vănhoá" mang ý nghĩa của việc "giáodục" (Bildung) cá thể, nâng cá thể từ mức"vô giáođục" mà nó luôn là như vậy trong cuộc sống hàng ngày tới "tri thức"được đem lại nhờ triết học khoa họcmà trước hết, nhờ triết học của chính Hêgen. Vì thế, ý nghĩa của việc "giáo dục" cá thể hay văn hoá là ở chỗ, bằng triết học, mỗi cá thể có thể đi qua tất cả các cấp) độ cấu thành của tinh thần thế giới", làm cho nó trở thành cái được nhận thức, đưa khai thác về mặt lý luận và được định hình trong tư duy vốn có của cá thể.

Cũng như những người đi trước, Hêgen quy văn hoá vào sự phát triển cua ý thức vào sự phát triển của tư duy cá nhân.Nhưng, ở ông, việc hiểu tư duy lại hoàn toàn khác biệt với sự lý giải của các nhà Khai sáng về "lý tính". Hêgen nhận thấy rằng, đối với các nhà Khai sáng, lý tính chỉ là phương tiện nhằm đạt tới những mục đích riêng biệt, tới kinh nghiệm của tồn tại người, chỉ là công cụ để thoả mãn những nhu cầu cảm tính của mỗi cá thể, những sự tuỳ tiện ngẫu nhiên và thói đỏng đảnh chủ quan của nó và do vậy, cái chung, cái phổ quát, nghĩa là tư duy, hoá ra lại phải tuân theo cái riêng. Hêgen cho rằng, cách nhìn nhận như thế rõ ràng là không thấu hiểu bản chất của tinh thần và mục đích của lý tính. Theo ông, phải chuyển hoá cái giản dị tự nhiên, cái đơn nhất, cái đã bị khu biệt khỏi đời sống công dân thành cái phổ quát của tư duy mới là mục đích thực sự của lý tính, và chỉcó văn hoá mớicó khả năng thực hiện sự chuyển hoá này.Rằng, nhờ có văn hoá, mỗi cá thể được giao tiếp không phải với tự nhiên, mà với thực thể tinh thần của thế giới và chừng nào, sự giao tiếp này chỉ có trong ý thức, trong tư duy, thì chừng đó, toàn bộ ý nghĩa của giáo đục, của việc khai sáng các cá thể, cũng như toàn bộ nội dung phát triển văn hoá của chúng vẫn còn nằm trong việc nâng cái riêng của các cá thể này lên đến cái chung, cái phổ quát của tư duy.

Như vậy, rõ ràng rằng, trong tất cả các cách giải quyết vấn đề văn hoá của triết học duy tâm trước Mác đều đặn đến tư tưởng cho rằng, lĩnh vực tinh thần là lĩnh vực duy nhấtcó giá trịđê phát triển văn hoá con người. Toànbộ thực tiễn vănhoá - lịch sử chỉđược các nhà triết học này lý giải như thực tiễn tinh thần bị chế địnhbởi hoạtđộng của ý thức, củatư duymà thôi. Giá trị của hoạt động vật chất, của lao động để phát triển văn hoá, để hiểu ý nghĩa thực sự của văn hoá đã bị phủ nhận hoặc bị hạ xuống bậc thứ yếu. Do vậy, việc làm sáng tỏ vai trò, bản chất và chức năng của văn hoá trong lịch sử trên cơ sở khoa học thực sự lại chờ đợi ở sự gánh vác của triết học Mác.

Nguồn:
LinkedInPinterestCập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Nhận diện con người Hà Nội qua lăng kính văn hóa Thăng Long - Hà Nội

    17/10/2019GS.TS. Trần Văn BínhCon người sáng tạo ra văn hóa, là chủ thể của văn hóa, đồng thời con người cũng là sản phẩm của văn hóa. Vì vậy, thông qua con người có thể hiểu văn hóa của một cộng đồng, một dân tộc, và ngược lại, qua văn hóa cũng có thể hiểu rõ về con người...
  • Minh bạch - một tiêu chí văn hóa

    25/04/2019Nguyễn Trần BạtMinh bạch là một trong những nguyên lý quan trọng nhất để khẳng định sự lành mạnh của cả thể chế lẫn xã hội, vì chúng ta đang sống trong thời đại mà khái niệm dân chủ được xem như một đặc tính chính trị. Nếu nhân dân không làm chủ được, thì mọi việc đều không minh bạch. Nhân dân làm chủ, không có nghĩa là nhân dân cần cái quyền đối chất với Nhà nước...
  • Gia tài văn hóa của Việt Nam

    05/04/2019Phan NgọcTại sao có một bề dày văn hóa mà Việt Nam chưa bao giờ giàu có cả? Bởi vì, bề dày văn hóa như một kho vàng, tuy nhiên phải vất vả đào bới mới có được và từng cá nhân một phải làm cho chính minh. Nhưng trước hết phải có người chỉ cho anh ta thấy kho vàng đã. Do đó, phải có một chính trị sáng suốt của anh ta, cho anh ta và vì anh ta. Và xây dựng những tổ chức để cùng nhau dào bới...
  • Văn hóa truyền thống Đông Á: có hay không các giá trị nhân quyền?

    18/08/2018Vũ Công GiaoBực tức trước việc các quốc gia Châu Á đề cao và khẳng định các giá trị nhân quyền trong truyền thống văn hoá của châu lục, gần đây, một số người phương Tây đã chỉ trích rằng, văn hoá truyền thống ở phương Đông nói chung, ở Đông Á nói riêng chủ yếu bao hàm những tư tưởng độc tài, phi dân chủ, tàn bạo mà không hoặc chứa đựng rất ít những giá trị nhân quyền...
  • Chủ nghĩa hiện sinh, nhìn từ góc độ văn hóa học

    14/12/2017Đỗ Minh HợpPhải chăng chủ nghĩa hiện sinh thật sự như là nó được hiểu trong các tài liệu viết về nó? Phải chăng nó đã thật sự thuộc về dĩ vãng? Và, cuối cùng, việc nghiên cứu hiện thời về chủ nghĩa hiện sinh liệu còn có ý nghĩa gì nữa không? Đối với tôi, chủ nghĩa hiện sinh chưa chết, hiện sinh còn là một tâm tính xác định trong con người của thời hiện đại ở phương Tây.
    ...phân tích chủ nghĩa hiện sinh còn cho phép chúng ta hiểu rõ hơn những chuyển biến văn hoá ở thế kỷ XX...
  • Văn hóa tranh luận

    14/11/2017Thủy Hoài... không phải văn hóa tranh luận trong doanh nghiệp nào cũng được hiểu đúng và áp dụng có hiệu quả. Không phải quan điểm nào cũng đưa ra tranh luận cũng đúng nhưng với một tập thể có nhiều sáng kiến, quan điểm khác nhau sẽ luôn là một tập thể mạnh và sôi động...
  • Toàn cầu hóa và hội nhập văn hóa

    21/01/2015Đinh Quang TổnToàn cầu hóa là một xu thế không thể cưỡng lại đối với tất cả các quốc gia. Chủ động để hội nhập là một thái độ tích cực, khôn ngoan. Chủ động hội nhập là khẳng định đường hướng có chiến lược, có chiến thuật, có kế hoạch cho tùng bước đi. Chủ động hội nhập sẽ khai thác được nhiều nhất những thuận lợi, những cơ hội để dân tộc có nhiều lợi ích nhất...
  • Văn hóa và giao lưu

    08/01/2015Đặng Nhật MinhGiao lưu văn hóa là một hành xử hai chiều: Đem tinh hoa văn hóa của mình giới thiệu với người nước ngoài và ngược lại đem những tinh hoa văn hóa từ bên ngoài để giới thiệu với người trong nước, qua đó học hỏi làm giàu thêm cho văn hóa của nước mình. Vế thứ nhất chúng ta đã làm và làm tốt...
  • Sành điệu Internet - “Bầy đàn” & Văn hóa đọc

    17/11/2014Nguyễn MinhVăn hóa đọc xem ra là vấn đề có vẻ trầm trọng, kéo theo nhiều băn khoăn, phiền não của những người tâm huyết với sách. Người ta mở biết bao nhiêu Hội thảo, diễn đàn trên báo bay trong... hội trường để bàn về việc làm sao cho sách in, báo in "trụ” được trong cuộc cạnh tranh dữ dội với lnternet. Tràn ngập trong những cuộc hội họp ấy là lời than phiền về tương lai của sách và luận điểm người ta đưa ra nhiều nhất là: Internet sẽ “nuốt chửng" sách in truyền thống, thật đáng lo ngại!
  • Sự hình thành bản thể luận văn hóa

    10/11/2014TS. Đỗ Minh HợpCó thể phân biệt ba giai đoạn cơ bản trong tiến trình phát triển của bản thể luận - bản thể luận tự nhiên (cổ đại), bản thể luận nhận thức (cận đại) và bản thể luận văn hoá (hiện đại). Không có ý định đi sâu vào đề tài này, chúng tôi chỉ muốn nêu bật sự khác nhau cơ bản giữa ba hình thức này của bản thể luận...
  • Thế động của văn hóa

    03/11/2014Trần Kiêm ĐoànKhi nói đến văn hóa Việt Nam, phần lớn những nhà nghiên cứu thuộc thế hệ đàn anh thường nói lên một khái niệm ước lệ như “Nước Việt ta có bốn nghìn năm văn hiến”. Đó là cách nói ở “thế tĩnh”. Coi văn hóa là một gia tài quá khứ, mang một giá trị tượng trưng và mơ hồ cần được chưng trong tủ kiếng hay cất kỹ trong cái tráp sơn son thép vàng của lòng tự hào dân tộc...
  • Nhận diện những hiện tượng phản văn hóa

    27/10/2014Phùng HiểnỞ nước ta, nhiều năm gần đây cùng với sự xuất hiện các giá trị văn hóa mới, những hiện tượng phản văn hóa ngày một gia tăng. Nhận định và đấu tranh với các phản văn hóa không phải một việc đơn giản. Có những phản văn hoá lại nhân danh văn hóa, nhân danh chủ nghĩa nhân đạo tồn tại như những mẫu mực sống của một cộng đồng người nhất định...
  • Nhân dân như là một phạm trù của Văn hóa chính trị

    25/07/2014Nguyễn Trần BạtNói đến đời sống chính trị người ta thường nghĩ ngay đến các nhà chính trị và các chính đảng. Đó là những bộ phận rất quan trọng cấu thành đời sống chính trị. Nhưng sẽ không có cả các nhà chính trị lẫn các chính đảng nếu không có nhân dân. Nhân dân bao giờ cũng là các đối tượng để các đảng lôi kéo...
  • Văn hóa trong phát triển

    11/09/2013Nguyễn Lân DũngVăn hóa đâu phải là sự thăng hoa, sự phản ánh của kinh tế. Đâu phải kinh tế cần đi trước, có tiền thì mới có điều kiện phát triển văn hóa. Ngược lại muốn làm kinh tế, muốn quản lý kinh tế phải có văn hóa...
  • Văn hóa sợ

    12/12/2010Phạm Lưu VũNgười ViệtNam hiện có cả một nền văn hóa... sợ. Không tin, bạn cứ đến sống thử một thời gian rồi khắc biết. Chắc chắn bạn sẽ nhận ra bởi cái "văn hóa" ấy nó đập chan chát vào cuộc sống của bạn hàng ngày, hàng giờ. Nếu bạn là người ngoài hành tinh đến thì càng tốt. Bạn sẽ càng nhanh chóng cảm thấy mà không cần phải dùng đến trí thông minh làm gì cho lãng phí...
  • Vấn đề văn hóa và con người trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH ở nước ta

    21/03/2007Hoàng Đình CúcVăn hoá là của con người, chỉ có ở con người. Văn hoá, đối với một con người, đó là tài và đức, đối với một quốc gia, đó là nền tảng dân trí, là trí tuệ, cất cách và bản lĩnh của dân tộc. Vai trò động lực của văn hoá được thực hiện thông qua con người...
  • Giữ gìn và khai thác di sản văn hóa dân tộc

    13/03/2007GS, TS Phạm Đức Dương“Văn hóa là cái còn lại sau khi đã quên hết - ta cố giữ lấy những cái gì còn lại đó”.
  • Hội nhập với thế giới và bản sắc văn hóa gia đình Việt Nam

    07/03/2007Nguyễn Võ Lệ Hà“Vì ta sùng bái hâm mộ cái phong lục xã hội Âu, Mỹ - cái chế độ hôn nhân của họ mà ta muốn mang hết thảy về thay đổi cho ta, đó chẳng những không hấp thụ được cái tinh hoa văn hóa họ mà lại dẫm lên cái cặn bã văn hóa của họ...Vậy thì chị em ai là người chủ trương sự giải phóng cho nữ giới, phải nên lựa chọn cái tính chất văn hóa cũ cùng cái tính chất của văn hóa mới dung hòa thế nào cho phù hợp nhau, để tạo nên những người phụ nữ rất trung thành với nghĩa vụ của mình...
  • Gia nhập WTO, nhìn từ chiều cạnh văn hóa

    04/02/2007Giáo sư Tương LaiKhái niệm "văn hóa" được nói ở đây với ý nghĩa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử dân tộc ta, là cốt lõi của bản lĩnh và bản sắc dân tộc đã hun đúc nên sức sống mãnh liệt của dân tộc ta...
  • Văn hóa đọc, một vài cảm nhận

    16/01/2007Mỹ LinhVăn hóa có nội hàm rộng lớn mênh mông - một khái niệm phức hợp, thế nhưng nó được thể hiện hàng ngày, rất gần gũi với mọi người chúng ta như văn hóa dân tộc, văn hoá lễ hội, văn hoá đô thị, văn hóa lối sống,văn hoá giáo dục...đã được mọi người thừa nhận. Thuật ngữ "Văn hoá đọc" là khái niệm mới được dư luận xây dựng lên, chưa có định nghĩa cũng như khái niệm nào nói văn hoá đọc là gì và nó như thế nào? Mặc dù vậy, theo thời gian cũng như sự phát triển của xã hội, thuật ngữ văn hoá đọc ngày càng được nóinhiềuhơn trên các phương tiện thông tin đại chúng và trở thành đề tài khoa học để nghiên cứu.
  • Con người văn hóa trong tư tưởng của một số doanh nhân dân tộc

    01/01/1900Nguyễn Bình YênSo với một số nước có nền văn minh phát triển sớm như TrungQuốc, Ấn Độ và một số nước TâyÂu thì Việt Nam không có những học thuyết tư tưởng lớn có vai trò chi phối sự phát triển xã hội như Nho gia, Đạo gia...
  • Vấn đề giáo dục đạo đức và nếp sống văn hóa gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

    01/01/1900Lê Ngọc AnhBên cạnh những người vẫn giữ được lòng hiếu thảo với cha mẹ, vượt lên khó khăn, sống có hoài bão, đã xuất hiện lối sống thực dụng, phóng đãng, xem nhẹ hoặc không còn biết đến lòng hiếu thảo là gì. Cũng đã có không ít người vội quên đi cuộc sống vất vả, khó khăn nơi thôn dã mà trước đó ít lâu họ đã nếm trải để chạy theo lối sống phung phí tiền bạc, lạnh lùng, thậm chí coi thường và xa lánh nhưng người có cuộc sống hiện còn nghèo khó.
  • Văn hóa và hội nhập

    24/11/2006Vương Trí NhànVới hội nhập, chúng ta đã tự khác đi bao nhiêu để rồi trong thâm tâm lại biết rằng ngày mai còn khác nữa, tuy rằng cái cốt cách lớn của dân tộc thì chẳng bao giờ suy suyển...
  • Xây dựng và phát triển ngành công nghiệp văn hóa ở nước ta

    01/01/1900Tô Huy RứaLà ngành nghề sản xuất sản phẩm văn hóa và cung cấp địch vụ văn hóa, công nghiệp văn hóa lấy sự thỏa mãn nhu cầu văn hóa của mọi người làm mục tiêu chủ yếu. Về phạm vi của ngành nghề, công nghiệp văn hóa bao gồm ngành sáng tạo và biểu diễn nghệ thuật, dịch vụ tin tức, vui chơi giải trí, đào tạo văn nghệ sĩ và kinh doanh tác phẩm nghệ thuật, ngành phát hành, xuất bản, ngành phát thanh truyền hình, điện ảnh, video, quảng cáo...
  • Một cách nghĩ về văn hóa

    06/11/2006Vũ Duy ThôngĐã có một thời gian khá dài tồn tại cách nghĩ văn hóa như một thành quả của quá trình lao động sản xuất. Với quan niệm đó, hưởng thụ văn hóa là sự đãi ngộ cho những nỗ lực của con người trong lao động.
  • Triết học văn hóa - Một tiềm năng nghiên cứu văn hóa con người

    29/10/2006Hồ Sĩ VịnhVào những năm 80 (thế kỷ XX) những vấn đề triết học văn hóa được các nhà khoa học Xô Viết ứng dụng và phát biểu theo quan điểm macxít. Người ta thường thảo luận, lật trở hai vấn đề cơ bản: Cái gì kiến tạo nên văn hóa với tư cách là một chỉnh thể, cấu trúc của nó là gì? Mục đích, sứ mệnh, ý nghĩa của văn hóa, của từng hình thái và hiện tượng văn hóa nằm ở đâu?
  • Văn hóa doanh nhân & văn hóa doanh nhân Việt Nam

    11/10/2006Trần Ngọc ThêmDoanh nhân là một khái niệm nghề nghiệp khá đặc biệt, cho nên xung quanh nó cho đến nay tồn tại khá nhiều ngộ nhận. Trong những bài viết nhằm khẳng định và tôn vinh doanh nhân ra đời trong những năm qua, những ngộ nhận này không được làm giảm đi, mà ngược lại, còn bị tô đậm thêm...
  • Văn hóa với tiềm năng hoạt động sáng tạo của con người

    09/11/2006Nguyễn Văn HuyênVăn hoá là "bản tính thứ hai" của loài người, nơi chứa đựng toàn bộ tinh hoa trí tuệ, nhẩm chất, năng lực, ý chí, khát vọng và niềm tin của con người, nói tổng quát, đó là toàn bộ sức mạnh bản chất Người. Quá trình tạo ra thiên nhiên thứ hai thực chất cũng là quá trình loài người không ngừng tự nâng cao và hoàn thiện chính mình...
  • Truyền thống và chủ nghĩa đa nguyên trong sự lý giải của Phâyơraben từ góc độ văn hóa

    11/09/2006TS. Nguyễn Huy HoàngMột trong những khó khăn gặp phải khi nghiên cứu triết học phương Tây nói chung hay "Triết học khoa học" nói riêng là yêu cầu xác định cho rõ những cơ sở thế giới quan của các học thuyết đang được xem xét. Khó khăn đó lại càng tăng lên khi hạt nhân của thế giới quan lại thường ẩn giấu, chứ không thể hiện rõ ràng trong lý luận và phương pháp luận của chúng....
  • Các lý thuyết mới về văn hóa

    01/09/2006Dominique Guillot (Huyền Giang dịch từ tiếng Pháp)Giải thích các quy tắc xã hội, các ý tưởng, cái tưởng tượng... từ lý thuyết tiến hóa, đó là mục tiêu của các mô hình Darwin mới về văn hóa. Một số lý thuyết ấy đem lại một tính độc lập cho văn hóa đối với những bó buộc của tự nhiên...
  • Đối thoại văn hóa hay đụng độ văn minh

    23/07/2006PGS. TS. Hồ Sĩ QuýSự đối thoại giữa các nền văn hóa là phương thức tối ưu cho sự lựa chọn của con người, là quy luật khách quan của sự phát triển bền vững. Sự đối thoại giữa các nền văn hóa là giá trị định hướng an toàn đối với tiến bộ xã hội...
  • Vai trò của Nhà nước trong xây dựng văn hóa quản lý mới

    06/07/2006Th.s Đào Văn BìnhQuản lý là một lĩnh vực của hoạt động tổng hợp, cần phải được nhìn nhận cả từ góc độ văn hóa. Cuộc đấu tranh văn hóa bao giờ cũng gắn liền với các cuộc đấu tranh khác, trước hết là cuộc đấu tranh kinh tế và chính trị, nhưng tất cả đều thống nhất vào một mục tiêu: Vì con người, tất cả cho con người. Kinh tế và văn hóa là hai nội dung cốt lõi của sự sinh tồn và phát triển của một dân tộc, một quốc gia. Chế độ chính trị tồn tại trên hai nền tảng đó, với hai nội dung đó…
  • Đối thoại liên văn hóa giữa Việt Nam và phương Tây

    26/06/2006Hữu NgọcCó thể định nghĩa tiếp biến văn hóa là sự tiếp xúc giữa các cộng đồng văn hóa khác nhau và kết quả là những thay đổi về văn hóa trong mỗi nhóm. Thí dụ: hai nhóm văn A và B tiếp xúc với nhau: tiếp xúc văn hóa có thể đem lại kết quả tích cực hoặc tiêu cực...
  • Văn hóa là gì?

    23/06/2006Nicolas JournetKhái niệm văn hóa đang trở thành thông dụng, nhưng định nghĩa của nó dường như bao giờ cũng tuột khỏi chúng ta. Dù sao sự phát triển của nó cũng gắn chặt với sự phát triển của các khoa học về con người...
  • Văn hóa ứng xử và tiến bộ xã hội

    25/05/2006Nguyễn Văn TrọngThời gian gần đây dư luận nước ta xôn xao nhiều về các yếu kém của ngành giáo dục trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế. Trước hết là hệ thống trong dạy nghề quá yếu không có mấy người đi học và không có trưởng tốt đáp ứng yêu cầu công nghệ hiện đại...
  • Văn hóa

    22/05/2006Phạm ToànChúng ta cần định nghĩa về văn hóa thật chặt chẽ, thật đầy đủ và nhất là định nghĩa đó phải đủ sức dẫn con người đi tới những hành động văn hóa. Đó là một cách làm đi từ gốc của vấn đề...
  • “Chỉ gìn giữ văn hóa không đủ, còn phải phát triển văn hóa”

    24/03/2006Thạch LựuNgười phụ nữ giữ trọng trách Phó chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại Quốc Hội gọi công việc của mình là làm PR cho nước Việt Nam. Trong suốt quá trình đi giới thiệu Việt Nam, văn hóa là lĩnh vực mà bà Ninh chú trọng và có ý thức gạn đục khơi trong những đóng góp của người ngoài để làm quà cho những người làm văn hóa trong nước. Đôi khi món quà ấy không phải lúc nào cũng ngọt ngào…
  • Chung quanh vấn đề xã hội học văn hóa

    11/03/2006Lê Đình CúcNhững năm gần đây trước các hiện tượng phức tạp của xã hội: cờ bạc, mại dâm, ma túy và tội phạm vị thành niên tăng cao, nhiều người không khỏi lo lắng, thậm chí lo sợ. Những hiện tượng trên, thời nào cũng có, nhưng chưa bao giờ đáng báo động như hiện nay ở tính chất nghiêm trọng của nó... t
  • Xây dựng chính sách văn hóa cần cụ thể và thiết thực

    24/02/2006Nguyễn HòaTừ luận điểm “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” của Đại hội IX đến luận điểm: “phát triển văn hóa để thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội” của Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội X, có thể thấy một vấn đề đặt ra đối với văn hóa Việt Nam trong những năm tháng trước mắt là yêu cầu về tính cụ thể và thiết thực...
  • Chuyện văn học – văn hóa – và những thứ khác

    28/01/2006Phan ViệtBài viết này của tôi có mục đích tổng kết những điều đáng buồn nổi cộm trong văn học, dịch thuật và những thứ liên quan tại Việt Nam trong thời gian gần đây. Tôi viết bài với tư cách là một người đọc và quan tâm tới văn học...
  • Nghĩ về nền văn hóa mới và cơ hội mới

    28/01/2006Phan NgọcChúng ta đang bước vào thời đại mới của nền văn hóa mới, với sự phát triển nhanh chóng của văn minh, của kỹ thuật, công nghệ. Bản thân kỹ thuật, công nghệ là biểu hiện, là tài sản chung cho trí tuệ loài người, không phụ thuộc riêng vào một dân tộc nào, và theo phép biện chứng của C.Mác, thì khi kỹ thuật sản xuất thay đổi, đời sống tinh thần cũng thay đổi...
  • Đi tìm ẩn số đẳng cấp văn hóa

    13/01/2006Giàu có, mức sống cao nhưng tầm văn hóa mỏng, người ta sẽ đi về đâu? Băn khoăn ấy là ẩn số cần được lưu tâm...
  • Cấu trúc lưỡng hợp trong bản sắc văn hóa Việt Nam

    27/12/2005TS. Nguyễn Thành Bang
  • Một vài suy nghĩ về văn hóa Việt Nam

    10/12/2005Là một nhà nghiên cứu văn học, GS Hà Minh Đức rất quan tâm đến sự phát triển của nền văn hoá dân tộc vì theo ông văn hoá gắn với sự phát triển chung của đất nước, với mỗi con người, mỗi cuộc đời. Dưới đây, Tạp chí xin giới thiệu đôi điều suy nghĩ của GS về văn hoá Việt Nam.
  • Tản mạn về một số hiện tượng văn hóa Việt Nam đương đại trong quan hệ với quá trình “đứt gãy văn hóa”

    06/12/2005Nguyễn HoàMột hệ thống giá trị văn hóa - văn minh lạ lẫm được du nhập... đã gây nên một cuộc đảo lộn và một quá trình “đứt gãy văn hóa” xuất hiện. Nhưng quá trình du nhập ấy, sự “đứt gãy văn hóa” ấy dẫu mạnh mẽ đến đâu vẫn không thể nhanh chóng thay thế tất thảy mọi hành vi ứng xử, mọi thói quen, nền nếp văn hoá... có tuổi đời đã hàng nghìn năm. Nó phải chấp nhận một tình trạng “lưỡng phân"...
  • Văn hóa Internet

    15/10/2005Phạm Kim HưngHãy bắt đầu bằng việc tưởng tượng ra một cuộc sống không có điện thoại...
  • xem toàn bộ